Thiên Chúa Hằng Hữu

 

Thiên Chúa còn đưọc gọi là Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa, Ông Trời, Đưc Chúa Trời, là Đấng hằng hữu, nghiã là lúc nào cũng có Ngài, và chính Ngài đã dựng nên mọi loài, mọi vật, trên trời, dưới đất, hữu hình và vô hình. Niềm tin này không chỉ ở nơi người Việt chúng ta, mà phổ quát khắp nơi, và mọi thời đại:

 

Đức Khổng Tử: "Duy Thiên vi đại" (Chỉ có Trời là lớn)
"Nhân tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên."
(Người còn biêt nhau, không thể mà không biết Trời được.)
"Nhân hữu đạo, bảo thực, noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú."
(Làm người phải có đạo, nếu chỉ tìm ăn no, mặc ấm, sống vô đạo, thì có hơn gì con vật.)

 

Thầy Chu Tử: "Thượng đế giả, Thiên chi Chúa tể giả." (Vua trên hêt là Chúa trên trời.)

 

Ông Đỗ Trọng Thư: "Thiên giả vạn vật chi tổ." (Trời là gôc của vạn vật.)

 

Triêt gia Pascal: "Nếu bạn muốn tin vào Thượng Đế, phải qùy xuống"

 

Bác học Pasteur: "Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế."

 

Bác học Becquerel: "Nhờ nghiên cứu khoa học, đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đưc tin."

 

Bác học Newton, vì nhìn thấy sự kỳ diệu và trật tự của bầu trời, đã thôt lên: "Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính."

 

Pasteur: "Mỉa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hết hoặc chết là trở về với hư vô."

 

Văn hào Platon: "Những ai có một chut trí khôn, đều phải kêu cầu Thượng Đế trươc khi băt đầu công việc của họ, dù việc lớn, hay việc nhỏ."

 

Bác học Duclaux: "Nếu sự sống đầu tiên xuât hiện trên mặt đât do tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuất hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự bò lên sườn núi."

 

Charles Dickens: “Kinh Thánh Tân Ước chính là cuốn sách tốt nhât đã từng và sẽ được biêt đến trên thế giới.”

 

Isaac Newton: “Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chăc chắn về tính có thực hơn bât cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó.”

 

Victor Hugo: “Nước Anh có hai cuốn sách: Kinh Thánh và Shakespears.
Nước Anh sinh ra Shakespeare, còn Kinh Thánh làm nên nước Anh.”

 

Napoléon: “Một dân tộc không tôn giáo, chỉ phải cai trị bằng súng đạn.”

 

Schiller: “Trong một nuóc mà tôn giaó lung lay, thì không chỉ tôn giaó lung lay, nhưng sẽ lung lay tât cả rường cột quôc gia: uy quyền quôc gia, sự tôn trọng luật lệ, kỷ cương, đạo hạnh, luân lý.”

 

Bác học Albert Einstein: “Khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là qùe quặt.”; “Thượng Đế không chơi trò may rủi.”

 

Albert Einstein: "Tôi chưa hề gặp điều gì trong Khoa học của tôi mà lại đi ngược với Tôn giáo."

 

Giáo sư Edwin Carlson, nhà Sinh vật học Trường Đại Học Princeton, Hoa Kỳ: "Sự sống phát xuất từ sự tình cờ, thì cũng giống như một quyển từ điển, xuất hiện do kết quả của một vụ nổ xảy ra ở một nhà máy in."

 

Giáo sư James Simpson, người phat minh ra phương phap gây mê trong phẩu thuật, khi được hỏi về những phat minh của ông, đã trả lời: “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu.”

 

Triêt gia Kant: "Không ai chứng minh một cach xac đáng là không có Thiên Chúa."

 

Bac học Edison, đã ghi vào sổ vàng khi ông đến viếng thap Eiffel: "Edison hêt sưc khâm phục và ca ngợi tât cả kỷ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa."

 

Pascal: "Người không tin nói, nếu tôi có đưc tin, tôi sẽ bỏ tà dâm. Nhưng tôi bảo anh, nếu anh bỏ tà dâm, anh sẽ có đưc tin."

 

Văn hào Bossuet: "Những chân lý đời đời không thay đổi của luân lý, buộc ta phải tin có một Đấng Tạo Hóa."

 

Triêt gia Brunetter: "Đã từ lâu, tôi cố gắng tìm kiếm một nền luân lý vô tôn giáo. Trươc hêt, tôi thấy rằng điều này khó thực hiện, sau tôi thấy rằng qúa liều lĩnh, cuối cùng tôi thấy rằng không thể được. Tôi một người thuộc nhóm Tự Do Tư Tưởng. Tôi băt đầu nghiên cứu Thiên Chúa giáo. Tôi đã học hỏi rât lâu, suy nghĩ rât cẩn thận, cuối cùng tôi phải nói rằng, chân lý ở phía chân trời đó."

 

Giáo sĩ Moreux, giám đôc đài thiên văn Bourges: "Tôi liên lạc với cac vị giám đôc thuộc hêt mọi đài thiên văn trên thế giới, tât cả đều tin có Thiên Chúa."

 

Charles Nicolle, người đoạt giải Nobel Y học, năm 1928: “May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm. Đó là dấu ấn của Thiên Chúa.”

 

Alexis Carrel, tiến sĩ y khoa, giáo sư đại học Lyon, đoạt giải Nobel 1912. Ông là một nhà vô thần, nhưng sau khi chứng kiến phép lạ nhãn tiền tại LộĐưc (Lourdes, France). Marie Ferrand, từ một cô gái săp chêt, trở nên lành mạnh tưc khăc, ông nói: “Thật là một chuyện không thể có nhưng có thực. Qủa là bât ngờ, một phep lạ mới xẩy ra.” Không dám tin ở mình. Alexis Carrel mời hai bác sĩ bạn đến chứng kiến và cả hai đều xac nhận cô đã hoàn toàn bình phục. Alexis Carrel đã trở nên tín hữu Thiên Chúa giáo, trước khi về Nhà Cha trên trời.

 

Văn hào Victor Hugo: "Thượng Đế là Đấng vô hình xac thực, chối Ngài là mù quáng điên rồ."

 

Bác học Chevreul (1786-1889): “Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài.”

 

Bác học Diderot: “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần.”

 

Bác sĩ riêng của Lenine, lúc 83 tuổi, ông xuât bản hai cuốn sách: “Sự bí mật và sự khôn ngoan của thân xác (1958); và “Mầu nhiệm của sự sống” (1960). Ông nói: “Môn sinh vật học và môn phân tich tâm lý, đã làm cho tôi trở nên một kẻ hữu thần.”

 

Văn sĩ Francois Coppée: “Trong những tháng nằm trên giường bệnh, tôi đã sống với sách Phúc Âm. Dần dần những dòng chữ của Sách Thánh trở nên sống động trong tôi. Trong mỗi tiếng, tôi thấy sáng lên một chân lý như một vì sao. Tôi cảm thấy chân lý ấy rung động trong tôi như một qủa tim. Làm sao từ nay tôi không tin có phep lạ, sau khi đã được phép lạ do sách Phúc Âm làm nơi tôi?  Linh hồn tôi trước kia mù tịt trước ánh sáng đức tin, bây giờ đã thấy ánh sáng này với tât cả vẻ huy hoàng của nó. Linh hồn tôi trước kia điếc đặc trước Lời Chúa, nay đã nge rõ ràng và vui sướng cảm phục. Linh hồn tôi trước kia tê liệt vì không tìm hiểu tôn giáo, lúc này đã nóng nảy hăng hái bay lên trời. Qủy dơ bẩn mà linh hồn tôi bị ám ảnh, nay đã bị đuổi đi.”

 

Nhà thông thái P. Tichmann:đã viêt nhiếu sách chống Giáo Hội Công Giáo và Chúa Giêsu. Ông cố sức tìm lý lẽ trong Cựu Ước đế chứng minh Chúa Giêsu chưa đến, thì ông thay đổi, vì ông thấy lời tiên tri trong Cựu Ưóc hoàn toàn thực hiện trong Chúa Giêsu. Ông nói: “Cái khăn bịt mắt của chúng ta thật là dầy, đã làm cho chúng ta không nhìn thấy chân lý rõ hơn mặt trời.”

 

Thánh Augustin: "Không ai phủ nhận Thượng Đế, nếu họ không có lợi gì khi phủ nhận Ngài."

 

Thánh Lêô Cả: "Cảnh vật thiên nhiên dạy mỗi người biêt tôn thờ Thiên Chúa."

 

Thánh vịnh 19:1 : "Tầng trời xưng tụng vinh quang Chúa, không trung giãi tỏ sự nghiệp Ngài."

 

Triêt gia Platon: "Có thể xây một thành trì trên chín từng mây, dễ hơn cai trị một dân không tôn giáo."

 

Chateaubriand: "Tiêu hủy việc thờ tự của Phuc Âm, thì mọi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình."

 

Bác học T. Termier: "Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biêt Thiên Chúa hiện hữu. Hơn mọi người khac, nhà bac học dù chuyên về khoa nào, bao giờ cũng dễ dàng nhận thấy mọi vật đều biến chuyển, bị tạo, hỗn hạp, khuyêt điểm, có cùng đich và rât phưc tạp. Do đó, hơn những người dôt nat, nhà khoa học dễ có ý hướng về một Đấng bât di bât dịch, tự hữu, cần thiêt, hoàn toàn và là Đấng duy nhât an bài mọi sự. Chính vì thế mà người ta bảo: khoa học dẫn đến Thiên Chúa. Và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa."

 

Giám mục Hulst sau 20 năm nghiên cứu cac vấn đề triêt học. Ngài có viêt năm 1885 rằng: Ngài đã đọc và suy nghĩ rât nhiều về cac sach báo cac nhà vô thần tài giỏi nhât, có tiếng nhât, những nhà thực nghiệm, những nhà phiếm thần đủ cỡ đã viêt. Tât cả những cái đó, không làm khuynh đảo lòng tin của Ngài, mà còn làm cho Ngài tin đến mưc độ hiển nhiên, có một đấng Thượng Đế tuyệt đối, có ngôi vị và tạo dựng vạn vật.

 

Bismarck, một võ quan và cũng là chính khach nổi tiếng của Đưc: "Người có trí khôn mà không nhìn biêt, hay chẳng muốn nhìn biết có Thiên Chúa, thì anh không hiểu sao họ không chêt quach đi, vì chán nản và bị khinh bỉ." (thư viêt cho vợ)

 

A. Eynieu đã công bố bản thống kê : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biêt lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% cac nhà bac học tin có Thiên Chúa.

 

Bác sĩ Dennert, người Đưc cũng tuyên bố kêt qủa tìm tòi của ông để biêt quan niệm tôn giáo của 300 nhà bac học, tìm hiểu trong những số lỗi lạc nhât thuộc 4 thế kỷ qua. "38 vị tôi không rõ cac ông quan niệm thế nào, còn 262 vị, thì 20 vị dửng dưng, 242 ông tin. Tưc cũng 92% tin có Thiên Chúa."

 

Svetlana Staline, con gái nhà độc tài đỏ Staline, sinh ra trong vô thần, huấn luyện trong vô thần, đã trở nên tín hữu Thiên Chúa giáo.

 

Cac bac học vô thần đã trở lại Thiên Chúa giáo: Taraschi Nagai, Alexis Carrel, Bregson...

 

Ông Lục Trung Tường, nhà ngoại giao Trung Hoa, từ nhỏ đã là môn sinh của sân Trình cửa Khổng, và chỉ biêt có đạo ông bà tổ tiên, sau gặp Thiên Chúa giáo như gặp được kho báu, ông đã trở về với Chúa. Ông nói: "Ơn cứu độ là chổ tập trung tât cả cac nẻo đường, là chổ độc nhât mà đưc hiếu của loài người, được tiêp vào đưc hiếu thảo siêu nhiên mà Đưc Giêsu Kitô đã dạy, và đã cho chúng ta hưởng thụ, để kêt hợp tât cả nhân loại với Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời."

 

Ông Ngô Gia Lễ, Tri phủ Kim Sơn, Ninh Bình, Băc Việt. Vì tiêp xuc với tín hữu Thiên Chúa giáo, ông muốn tìm hiểu đạo lý, đã đọc Phuc Âm, đã nhận ra tính cach siêu việt của Đưc Giêsu Kitô, Con Trời giáng thế. Ông nói: "Tôi đọc Phuc Âm một cach thành kính. Tôi nhận thấy Đưc Giêsu Kitô không phải chỉ là nhân vật khac thường, Ngài chính là Con Thượng Đế, đã đến để cứu đời. Tôi là một trong những kẻ được Ngài tỏ mình ra trong Phuc Âm."

 

Ông Trịnh Sùng Ngô, Giáo sư triết Đại học Honolulu, nguyên Đại sứ Trung Hoa Dân Quôc tại Vatican. Sau khi trở lại ông giup nhiều bạn hữu biêt đạo, ông đã đem hêt tâm trí vào việc dịch Thánh Kinh ra tiếng Trung Hoa. Ông nói: "Thiên Chúa giáo là đạo bởi Trời. Người ta lầm cho đó là đạo của Âu Châu. Đạo đó không phải của Âu châu hay Á châu, không cũ, không mới. Sau nhiều năm lạc lõng, nay tôi được về với Đưc Giêsu, và ở luôn với Ngài thật là vui sướng vô biên. Từ nay sự sống và bản thể tôi được đặt vào lãnh vực đời đời. Gia nhập Hội Thánh Chúa, tôi đã không thiệt gì, nhưng đã được hoàn toàn mãn nguyện."

 

Họa sĩ Nhật Foujita, dòng dõi tướng quân Samourai, đã giup triều đình Mikado, từ thế kỷ thứ 8 đến thếkỷ 12. Thân sinh ông là sĩ quan câp tướng trong Bộ Tham Mưu Hoàng gia. Sau khi tôt nghiệp trường mỹ thuật Đông Kinh, Foujita được gửi qua Âu châu, để tiêp xuc với mỹ thuật Tây phương vào năm 1912. Đến Paris, Foujita được tiêp xuc với cac danh họa như Picasso, Van Gough, Renoir, Gauguin....được quan sat những tac phẩm ở cac bảo tàng viện và cac Thánh đường. Oc thẩm mỹ tế nhị làm cho ông chóng nổi tiếng. Năm 1919, 1920, 1923 ông đã trưng bày nhiều tac phẩm gía trị. Năm 1924-30 ông chỉ huy trang trí Khu NhậtBản ở CâuLạcBộ ĐồngMinh, được huy chương của hai nươc Phap và Bỉ. Năm 1931 ông qua Mỹ, năm 1933 qua Roma, về Nhật năm 1949, ông và cả giađình lãnh PhepThánhTẩy tại nhà thờ Reims. Ông đã mãn nguyện trở nên con Chúa. Ông nói: "Sự nghiên cứu mỹ thuật Tây phương đã đưa tôi đến những sáng tac của Thiên Chúa giáo, làm cho tôi bươc vào một thế giới siêu phàm, ở đấy tôi nhìn thấy Thượng Đế. Những kiến truc vĩ đại, những kiệt tac về điêu khăc, hội họa của Thiên Chúa giáo làm cho tôi rung động tâm hồn, khiến tôi say mê tìm hiểu đến thỏa mãn. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở Thượng Đế và nhât quyêt trở về với Ngài."

 

Ông Mashaba, một học giả Ấn độ, sinh tại Bihar. Ông được du học bên Anh nhiều năm, tuy có tài về hành chánh, ông không nhận một công tác nào trong khối Liên hiệp Anh; sẵn có khuynh hướng về thần bí học, ông đã sống độc thân để nghiên cứu về cac tôn giáo. Ông nói: "Sở dĩ mỗi tôn giáo công dụng khác nhau, vì mỗi giáo tổ nhìn thấy một khía cạnh đau khổ của con người và tìm cách cứu giup theo khía cạnh đó. Bởi thế có thứ kêu gọi từ bi quảng đại, có thứ chủ trương diệt dục hy sinh, có thứ dùng hiếu thảo nhân nghĩa, có thứ giúp tu thân cứu đời, công bằng bác ái, nhưng không tôn giáo nào đầy đủ như Thiên Chúa giáo, vì xây dựng cho con người một cuộc sống có ý nghĩa cao thượng, bảo đảm cho một tương lai hạnh phúc, và có nhiều đặc điểm mà cac tôn giáo khác không có, như:

 

Ông kết luận bằng một ví dụ: trươc khi mặt trời mọc, người ta đã thấy ánh sáng của Đạo Trời chiếu vào nhân loại, trước khi chính Con Trời giáng thế làm sáng tỏ hẳn Đạo Trời. Nay ngày của cuộc đời đã đến luc chính ngọ, thì không ai mà không được ánh sáng của Đạo Trời soi tới.

 

J.J Rousseau có ý mỉa mai những ai cho rằng câu chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu là bịa đặt, như sau: "Bịa đặt như thế thì không được; đến nổi tac gỉa bịa đặt, (nếu có) chăc chắn còn lạ lùng hơn anh hùng trong cuốn sach."

 

Tổng Thống George Washington: "Không thể có một chính phủ đúng, khi chính phủ đó phủ nhận Thượng đế và Kinh thánh."

 

Tổng Thống Abraham Lincoln: "Kinh Thánh là qùa tặng qúy nhât mà Thượng Đế đã ban cho nhân loại."

 

Tổng Thống Dwight Eisenhower: "Văn minh của chúng ta được xây dựng trên nền tảng Kinh Thánh."

 

Tỗng Thống Andrew Jackson: "Kinh Thánh phải là nền tảng cho thể chế của chúng ta."

 

Một bác học Mỹ, có ý mỉa mai và đánh giá những kẻ chủ trương vô thần như sau:

 

Bán tất cả những cái đó được 95 xu, chưa nổi một Mỹ kim.

 

Cái chêt của Voltaire: Triêt gia Voltaire là kẻ vô thần. Ông cố hạ bệ Thiên Chúa và đánh phá Giáo hội Công giáo. Không một lời gian dối nào mà ông tởm gớm, không một vu oan nào mà ông ghê sợ. Ông chiêu tập một nhóm, gọi là “Nhóm Beelzebuth”. Năm 1753 ông đã lên án Thiên Chúa: "20 năm nữa Thiên Chúa về hưu, vì không còn ai phục vụ Ngài." Đúng 20 năm sau, năm 1773, Voltaire tăt thở trong cái chêt thê thảm. Ông thấy những hình ảnh làm ông run sợ, ông la lên: "Một bàn tay đang kéo tôi đến với Thiên Chúa...Đây qủy muốn băt tôi...Tôi trông thấy hỏa ngục." Ông tru tréo gầm thet như thú vật hung dữ. Ông lấy móng tay cấu xé thịt mình ra từng miếng. Một bà gìa thuòng giup người hâp hối, sau khi chứng kiến cái chêt của Voltaire, nói: "Khi ấy tôi ở gần giường của Voltaire đang hâp hối, tôi không còn muốn thấy một người vô đạo chêt nữa." Một người khac cũng chứng kiến cái chêt của Voltaire, nói: "Nếu qủy có thể chêt được, cũng không chêt dữ như Voltaire."

 

Hỏa ngục. Năm 1917, Đức Mẹ Maria hiện ra với ba trẻ tại Fatima, nước Bồ Đào Nha, đã cho cac em thấy hỏa ngục và các em mô tả lại như sau: "Đức Mẹ cho chúng con thấy một biển cả lửa hồng dường như ở dưới mặt đât. Chìm ngập trong lửa này là qủy dữ và cac linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt, đen đủi hoặc xám xịt. Họ nổi lên trong đám cháy, bị cac ngọn lửa nâng lên cao, những ngọn lửa này phat ra từ thân hình họ cùng với một đám khói lớn. Họ lại rơt xuống mọi phía, giống như những tia lửa trong một đám cháy lớn, vô trọng lượng hoặc mât thăng bằng, và giữa những tiếng la het và rên rỉ vì đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh khiêp chúng con và làm chúng con run lên vì sợ hãi. Cac qủy dữ có thể phân biệt do cac hình thù gây kinh hãi và ghê tởm, giống như những con vật khủng khiêp và chưa bao giờ thấy, tât cả đều đen đủi và trong suôt. Thị kiến này kéo dài một luc. Làm sao chúng con có thể bày tỏ lòng biêt ơn cho xứng với Mẹ yêu dấu trên trời của chúng con, Đấng đã báo trươc cho chúng con trong lần hiện ra thứ nhât, khi hứa rằng Ngài sẽ đem chúng con về trời. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chêt điếng vì sợ hãi và kinh khiếp"

 

Hy vọng những trang này sưu tầm này, không vô ich cho những tâm hồn khao khát chân lý.

 

Nguyễn Hy Vọng