MTG Cái Mơn làm chứng cho Chúa Kitô trên đất nước Việt Nam

Viết nhân dịp đến thăm Cái Mơn 30-8-2004

 

Tôi rất thích những ca khúc của Trịnh Công Sơn đặc biệt khi nhạc sỹ nói về những dòng sông. Ông là người Huế chắc chắn phải yêu sông Hương núi Ngự hơn cả và khi viết về những dòng sông ắt hẳn hình ảnh của sông Hương phải chiếm ngự tâm hồn ông. Tuy thế tôi vẫn cho rằng những dòng sông ở miền Tây, vùng đồng bằng sông Cửu Long, vẫn hiện lên bàng bạc nơi các ca khúc của ông. Ai có một quê ngoại ở rất xa và rất sâu nơi vùng sông nước mênh mông này, mỗi khi dừng bước giang hồ, từ một nơi xa xôi quay về, khi chung quanh bốn bề chỉ là trời và nước, lênh đênh trên một chiếc phà lúc mây xuống thật thấp, gió thổi phần phật và mưa đổ ập xuống, sẽ thấm thía thân phận hư vô của con người trước thiên nhiên hùng vĩ. Tôi có là gì đâu, dù bôn ba nhiều và đi thật xa nhưng không công thành danh toại, giấc mộng tan vỡ, ước nguyện xưa cũng dang dở, tóc đã bạc, cuộc đời xem như thất bại, nhưng những chiếc lá dừa dại mọc hai bên bờ sông vẫn còn xanh, vẫn vươn lên. Sức sống mà dòng sông mang lại vẫn cuồn cuộn, cuộc đời nhờ những dòng sông này vẫn còn luôn đẹp, réo rắt gọi ta đi tới.

 

Người ngồi đó trong mưa nguồn,

ôi yêu thương nghe đã buồn,

ngoài kia lá như vẫn xanh,

ngoài sông vắng nước dâng lên hồn muôn trùng…

(Mưa Hồng - Trịnh Công Sơn)

 

Cái Mơn, một địa danh rặc Nam Bộ, nằm ở giữa vùng sông nước miền Tây là quê hương của danh nhân Pétrus Trương Vĩnh Ký và có phần mộ của Thánh Tử Đạo Linh Mục Philipphê Nguyễn Văn Minh, người đã đổ máu ra làm chứng nhân cho Chúa Kitô tại Mặc Bắc, tỉnh Vĩnh Long nhưng được cải táng tại Cái Mơn. Mộ của ngài thu hút nhiều người đến hành hương và có những người được ban cho nhiều ơn tuy rằng phần lớn hài cốt của ngài đã trở thành thánh tích tản mác đi tận bốn phương trời, được đặt dưới các bàn thờ ở nhiều thánh đường Việt Nam, đến tận cả Rôma. Đức Ông Nguyễn Văn Phương đang phục vụ tại Giáo triều Rôma cũng là một người con của Cái Mơn. Nhà thờ Cái Mơn đã có hàng trăm năm nay, vẫn kiên vững với thời gian, tháp chuông cao ngất có đến bẩy cái chuông thật to, mỗi dịp lễ trọng chuông được kéo lên sẽ ngân nga đi hàng mấy chục cây số. Ngày xưa những cái chuông to lớn này nằm theo hàng ngang trong một căn nhà sát bên đường lộ nhưng từ khi đường được mở rộng thêm (vẫn còn rất nhỏ so với những con đường ở thành phố) thì tháp chuông được xây lại ở phía bên trong, mé phải nhà thờ, và các cái chuông mới được xếp theo chiều cao thẳng đứng với mặt đất. Họ đạo Cái Mơn là một trong những họ đạo kỳ cựu nhất, lớn nhất miền Tây, có đến 17 ngàn giáo dân với 6 giáo họ, mỗi ngày Chủ Nhật có đến 11 thánh lễ, những con số có vẻ đồ sộ thật ấn tượng. Vào những thánh lễ Chúa Nhật khách sẽ ngỡ ngàng vì chất lượng sâu sắc của những bài giảng của linh mục chủ tế ở một nơi đèo heo hút gío và quê mùa như thế này. Tuy nhiên đừng quên rằng ở miền Tây Nam Bộ số người tin vào Chúa Kitô chỉ chiếm một vài phần trăm dân số và Cái Mơn tọa lạc ở một nơi rất xa xôi hẻo lánh. Từ thành phố Mỹ Tho muốn đến được Cái Mơn khách du lịch phải qua phà Rạch Miễu rồi phà Hàm Luông.

 

Càng gần đến Cái Mơn đường lộ càng trở nên nhỏ hẹp khó đi, phải đi qua những cây cầu sơ sài gập ghềnh chỉ vừa cho 1 cái xe bốn bánh chạy qua. Khi đi qua những vùng trù phú nhưng chưa tiếp nhận Chúa Kitô, khách sẽ băn khoăn tự hỏi tại sao Tin Mừng của Ngài không đến được với người dân ở những nơi phồn hoa đô hội, vị trí thuận tiện, đời sống sung túc hơn, mà lại đâm hoa kết trái phì nhiêu ở nơi hoang sơ nghèo khó này. Ngay trước cổng nhà thờ Cái Mơn là một tấm biển 2m x 4m tuyên truyền của nhà nước vẽ hình một cô gái khỏa thân hoàn toàn đang nằm trong một tư thế khêu gợi, bên dưới có hàng chữ “Chống mại dâm”. Ở phía đầu nhà thờ là tòa nhà 2 tầng mà nhà nước vẫn còn mượn của nhà thờ từ 30 năm nay để làm trường trung học cơ sở. Đàng sau trường có một sân trống nơi các nam giáo viên thường ra chơi bóng chuyền trong tư thế chỉ mặc có một cái quần mà người Nam Bộ gọi là “xà lỏn”, họ hoàn toàn vô tư trước vẻ thanh tịnh của một nữ tu viện nằm kế bên. Thỉnh thoảng họ còn mở tiệc nhậu vui vẻ, la hét ồn ào. Đó là những minh họa nói về cái “thế gian” khắc nghiệt mà Chúa Giêsu sai các môn đệ đi vào để loan báo Tin Mừng.

 

Người tin đi rao giảng nhưng dân ngoại có tiếp nhận Tin Mừng hay không thì không do bởi người nói hay người nghe nhưng do bởi hồng ân của Chúa. Cái Mơn đã thấm máu các vị tử đạo, đã được hồng ân đón nhận Tin Mừng vì đâu? Có lẽ vì Cái Mơn được diễm phúc của những người nghèo. Mỗi lần đến Cái Mơn tôi vẫn thích đến thăm nơi hội tụ những người nghèo nhất ở Cái Mơn: Nhà Mẹ Dòng Mến Thánh Gía Cái Mơn. Nhà Dòng thành lập cách đây đúng 163 năm (1844-2007) và nằm phía bên phải nhà thờ Cái Mơn. Mẹ Bề Trên hiện nay là Nữ Tu Agnès Nguyễn Thị Phụng luôn toát lên đặc tính của người phụ nữ Nam Bộ chân chất niềm nở khi tiếp khách. Phòng làm việc của Mẹ nằm trong dẫy nhà kiểu Pháp xây năm 1911. Đi vào đây khách có cảm giác lọt vào một lâu đài hoang phế xây từ thời trung cổ ở Âu Châu. Cái computer ở trên bàn mà Mẹ cho biết mới được người ta cho, chạy rất chậm, gõ một lệnh vào thì máy phải chạy cả mấy phút mới xong, người không nhẫn nại không thể làm việc với chiếc PC này. Nơi đầu tiên Mẹ sẽ giới thiệu cho khách đến thăm là ngôi nhà nguyện riêng, nhỏ bé và đơn sơ xây dựng năm 1970, lúc nào cũng có các nữ tu chầu Thánh Thể 24/24 tiếng. Ở phía cuối nhà nguyện có một tấm bảng ghi lên những ý nguyện mà khách thập phương xin nhà dòng cầu nguyện cho. Bạn sẽ gặp cảnh một vài nữ tu rất lớn tuổi, cuộc sống chỉ còn đếm từng ngày, tóc bạc phơ, gầy xơ xác, quỳ trầm ngâm trước Thánh Thể lâu giờ. Thỉnh thoảng các chị, khi chìm sâu vào chiêm niệm, đã thổn thức giơ đôi tay còm cõi nhăn nheo lên cao để cầu nguyện cho thế giới, trong đó có tôi. Không ai, kể cả bản thân các chị, ghi nhớ được trong cuộc đời làm việc các chị đã đưa về cho đàn chiên của Chúa Kitô bao nhiêu tân tòng, đã dạy giáo lý bao nhiêu giờ, đã chăm sóc bao nhiêu người đau ốm, tất cả đều trong âm thầm mà hiệu qủa. Tôi đã gặp rất nhiều người lớn tuổi luôn nhắc về các kỉ niệm tốt đẹp nhất trong đời họ khi được các nữ tu dạy dỗ các điều hay lẽ phải.

 

Cách nhà nguyện một hành lang ngắn là phòng chung của các nữ tu về hưu. Có 50 chị đang sống những ngày cuối cùng của đời thánh hiến mình nơi đây. Nhiều chị rất là già yếu, không còn ngồi dậy được để chào khách vào thăm. Mỗi chị, ngoài cái giường đơn nhỏ bé và một cái kệ con đựng một ít vật dụng cần thiết thì tài sản cuối cùng trên trần thế này không còn gì khác. Các chị đã mến Thánh gía của Chúa Giêsu suốt cuộc đời thì cũng ôm ấp lấy Thánh gía trong những ngày sau chót. Đi thêm một đoạn ngắn bạn sẽ đi vào nhà bếp. Các chị vẫn dùng củi, nhưng ở vùng sông nước này, củi không lấy gì làm thừa thãi nên các chị phải xin về bã mía, vỏ dừa, tôi không thể ngờ được là các chị còn phải mang về nhiều loại lá cây, phơi ngoài sân cho khô vàng đi, để nấu nướng. Nấu xong một bữa cơm như thế ắt phải chảy rất nhiều nước mắt. Gặp giờ ăn trưa các soeur sẽ đãi bạn một bữa ăn thanh đạm. Người thành phố sẽ khó nuốt trôi những hạt cơm còn vương nhiều bụi cám, khô khan đăng đắng. Trong nhà dòng có 200 chị, tiền chợ mỗi người là 2,000 đồng ($0.12) một ngày. Nhưng một tháng cũng phải chi đến cả 12 triệu mới đủ. Đáng lẽ chỉ có các nữ tu mới được ở trong khuôn viên nhà dòng nhưng thật bất ngờ, giữa chốn thâm cung tu viện lại có một dãy giường dành cho vài chục cụ bà tứ cố vô thân. Soeur Phụng giải thích, các cụ bà này không có hay bị con cháu bỏ rơi, họ không có nơi nương tựa nào khác nên nhà dòng cho họ nương náu những ngày cuối trong đời. Tuy điều kiện thật eo hẹp nhưng còn tốt đẹp hơn vạn lần nếu họ phải ăn xin nơi đầu đường xó chợ. Soeur Phụng ngậm ngùi vì phải từ chối nhiều cụ bà cô qủa khác muốn vào nhưng nhà dòng không còn khả năng tiếp nhận. Một số cụ còn mạnh khoẻ minh mẫn, họ tình nguyện chăm sóc cho các nữ tu qúa gìa yếu. Mọi người nghèo bị bỏ rơi đều là hiện thân của Chúa Giêsu nhưng nhận ra Chúa Giêsu nơi người nghèo không phải là điều dễ dàng. Phải có ơn đặc biệt của Chúa mở mắt ta ra, ta mới cảm nghiệm được và biết giơ tay ra đón nhận họ. Nơi các cụ ở rất nóng vì mái nhà bằng tôn rất thấp mà lại không có trần. Soeur Phụng cho biết chưa tìm được ngân khoản làm trần cho phòng của các cụ. Chúng tôi được đến thăm khu đệ tử của nhà dòng. Có 60 cô gái đang được huấn luyện và theo đuổi ơn gọi nơi đây. Soeur Phụng cho biết nhà dòng đón nhận nhiều em rất trẻ vì nếu ở với gia đình các em sẽ phải bỏ học đi làm mướn. Có một số em từ tận miền Bắc vào xin tu và cho biết rất thích bầu khí của một nhà dòng mang đặc tính miền sông nước Nam Bộ nơi mọi người đối xử với nhau rất chân tình, thoải mái, cởi mở và luật dòng không qúa khắt khe.

 

Dòng Mến Thánh Gía Cái Mơn là một hội dòng địa phương của Việt Nam, phải tự lực cánh sinh mà không có sự trợ giúp nào từ bên ngoài. Các chị trồng hoa hồng, ươm cây giống, thả cá, nuôi gà, nuôi heo đem bán. Để chăm sóc bầy heo cho tốt một số chị còn ở trong căn phòng chỉ cách chuồng heo một vách ngăn bằng gỗ. Dê được nuôi trên những cái chuồng cao vì không có đủ đất để thả chúng bên ngoài. Thực phẩm chính của dê là các loại lá cây nhất là lá cây bông gòn. Phân dê thì đen, nhỏ và tròn như những viên bi, rơi vãi tạo nên một mùi nồng nặc. Phân được phơi khô dùng để bón cây. Các chị nhận mối các loại quần áo ngoài chợ về may, một cái áo đầm nữ cho trẻ 5 tuổi được trả công may 1,000 đồng ($0.06). Các chị tự may lấy các áo dòng. Tất cả 10 chiếc máy may đều là loại gia dụng xưa cũ, không có cái nào là máy may công nghiệp đời mới. Tôi đếm được 4 cái đàn organ loại cũ rẻ tiền trong phòng dạy nhạc. Tôi thật vô ý khi nhìn một khu nhà có mái tôn và hỏi Sr. Phụng đây có phải là chuồng heo hay không. Soeur cho tôi biết đó chính là dãy phòng tắm của các chị. Có lẽ tài sản qúy nhất trong nhà dòng là những chiếc ghe mảnh mai mà các soeur dùng để lênh đênh trên vùng sông nước chằng chịt như mạng nhện, mang Tin Vui loan báo cho người dân ở tận những nơi thâm sơn cùng cốc. Khi mưa xuống, mọi con đường ở vùng này đều rất trơn trợt, khách bộ hành phải ghìm từng bước chân để khỏi té, đi một đoạn ngắn là phải leo qua một cái cầu khỉ, có khi chẳng có cầu nữa đành phải chạy vài bước lấy đà và “a lê hấp” nhẩy qua. Nhìn chung đây là một nhà dòng thuần túy Việt Nam mang đặc tính hoàn toàn Việt Nam chịu thương chịu khó. Nhà dòng đã tồn tại cả trăm năm, các ngôi nhà cổ xưa đều tiêu điều xơ xác vì thiếu kinh phí tu sửa. Nhiều mái ngói oằn xuống vì một số đòn tay đã gẫy. Thật là:

 

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.

 

Nhà dòng nghèo nhưng lại là hồng ân Chúa ban cho giáo hội Việt Nam tại vùng sông nước mênh mông này. Những nữ tu nghèo, xuất thân từ những gia đình nghèo, sống khó nghèo, đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo đúng là một hồng ân của Chúa ban cho người nghèo. Hiện nhà dòng có 300 nữ tu làm việc tại trên 100 điểm truyền giáo. Nơi nào cao nhất thì được hai chị, đa số chỉ được 1 chị, nhiều nơi có nhu cầu nhưng nhà dòng đành chịu vì không có đủ nhân sự gởi đến. Soeur Phụng rất ưu tư vì tuy ơn gọi Chúa gởi đến rất là phong phú nhưng khó khăn rất lớn về tài chánh làm nhà dòng bó tay không thể tiếp nhận hết và huấn luyện chu đáo được. Soeur rất lo lắng việc nuôi sống các chị hàng ngày dù các chị đã sống ở mức không còn có thể nghèo hơn được nữa.

 

Đường về thành phố vẫn phải qua hai lần phà Hàm Luông và Rạch Miễu, mưa vẫn to và gió vẫn lớn. Chúa Giêsu đã nói về Chúa Thánh Thần như là gió. “Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy." (Gioan 3,8) Ở miền sông nước và gió này người môn đệ có thể thiếu thốn nhiều thứ nhưng gió thì luôn dồi dào. Ca khúc về dòng sông của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn lại réo rắt trong lòng người lữ thứ nhưng lại mang nhiều ý nghĩa mới.

 

“Người ngồi xuống xin mưa đầy

trên hai tay cơn đau dài,

người nằm xuống nghe tiếng ru,

cuộc đời đó có bao lâu mà hững … hờ.”

 

Có dịp về quê hương, xuôi miền Tây sông nước, xin mời qúy vị hành hương đến Cái Mơn thăm mộ Thánh Tử Đạo Philipphê Nguyễn Văn Minh, để thấy ông cha ta đã gian truân như thế nào để truyền lại đức tin cho con cháu, để thấy được bàn tay Thiên Chúa làm việc nơi những người nghèo, cụ thể là Nhà Dòng Mến Thánh Gía Cái Mơn.