Biến Cố Thánh Mẫu Vô Nhiễm ở Lộ Đức 1858

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Nguồn: Thời Điểm Maria

 

Cuộc Mẹ Maria hiện ra 18 lần ở Lourdes miền tây nam Nước Pháp, vào năm 1858, với một em gái 14 tuổi, Bernadette Soubirous (được Đức Piô XI phong hiển thánh năm 1933, lễ kính ngày 18/2), thứ tự vào những ngày như sau: 11/2, 14/2, 18-19/2, 20-28/2, 1-2/3, 4-3, 25-3, 7-4, và 16-7, Lễ Đức Mẹ Xuống Tuyết hay Lễ Đức Mẹ Carmêlô.

Ở đây, chúng ta thấy các Biến Cố Thánh Mẫu có một sự liên hệ chặt chẽ với nhau. Nơi Biến Cố Thánh Mẫu Ban Ơn 1830, Mẹ chưa tự xưng mình như ở Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức “Mẹ là Đấng hoài thai vô nhiễm tội”, nhưng Mẹ đã báo trước cái tác dụng và ảnh hưởng của đặc ân này, đó là phần rỗi của chung nhân loại và của chung loài người. Và chính vì tác dụng của Ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội này là cứu độ mà ở địa điểm của Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức mới có hiện tượng Mẹ chữa lành phần xác, chữa lành những dấu vết của nguyên tội nơi thân xác tro bụi và bệnh tật bất trị của con người.

 

Đó là lý do, như Biến Cố Thánh Mẫu Fatima 1917 sau này liên quan tới ánh sáng nói chung (nhất là với phép lạ mặt trời quay trên không trung) và tước hiệu Mẹ Mân Côi, những yếu tố tự nhiên và siêu nhiên cho thấy uy quyền cứu độ vô địch của Mẹ thế nào, thì Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức cũng thế, với tước hiệu Hoài Thai Vô Nhiễm và phép lạ giòng nước chữa lành vọt lên từ đất ở trong một hang động, đã cho thấy Mẹ là Mẹ của sự sống, của niềm hy vọng.

 

Trong 4 Linh Địa Thánh Mẫu nổi tiếng của Thời Điểm Maria là Ba Lê, La Salette, Lộ Đức và Fatima, chỉ ở Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức Mẹ Maria mới thực sự tỏ ra bản chất đầy ơn phúc của Mẹ nơi Đặc Ân Vô Nhiễm Nguyên Tội qua việc Mẹ chữa lành về phần xác bị bệnh tật bất trị của con người. Việc Mẹ chữa trị này, cho đến nay trong cả hằng ngàn vụ được tường trình, Giáo Hội mới chính thức công nhận 67 vụ được cho là phép lạ thực sự, chẳng những cho thấy con người dù văn minh tân tiến đến đâu chăng nữa, cũng không thể cứu được phần xác của con người, mà còn cho thấy quả thực có Trời Cao, có sự hiện diện thần linh trong lịch sử loài người, có Ơn Cứu Độ từ trên cao, một thực tại mà nếu con người chối bỏ bằng thái độ duy nhân bản, duy ngã độc tôn tôn thờ thần tôi của mình, phụng sự “nữ thần tự do” của mình, họ chắc chắn và vĩnh viễn sẽ không thể nào tìm được bình an chân  thực, trái lại, họ còn tán sát lẫn nhau, như những gì sẽ xẩy ra vào thế kỷ 20, và đã được báo động nơi các cuộc cách mạng ở Pháp vào những năm 1830, 1848 và 1870.

 

Trong cuốn St. Marie Bernadette Soubirous, Ep. Ad P. Gondrand, a 1861: cf. A. Ravier, Les Eùcrits de Sainte Bernadette, Paris 1961, trang 53-59, chúng ta đọc thấy những gì được chính Chị Thánh Bernadette thuật lại về Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức nguyên văn như sau:

 

“Ngày kia tôi cùng với hai đứa con gái khác đi xuống bờ sông Gave, thì thình lình tôi nghe thấy một cái gì đó như tiếng gió vi vu. Tôi ngoảnh đầu lại hướng về phía đồng cỏ gần bờ sông, song cây cối vẫn lặng lẽ, rõ ràng là tiếng động không xuất phát từ chúng. Đoạn tôi nhìn lên và thấy ngay trong động đá một vị nữ lưu mặc chiếc áo trắng dễ thương với chiếc giây thắt óng ánh. Trên chân của bà mỗi bên đều có một bông hồng mầu vàng nhạt, cùng mầu với những hột ở tràng chuỗi mân côi của bà.

 

“Thấy thế tôi giụi hai mắt, nghĩ rằng tôi đang thấy một cái gì đó, và tôi xỏ tay vào viền quần đựng cỗ tràng hạt. Tôi muốn làm dấu thánh giá, nhưng tôi không thể làm được, và tay tôi trở nên rụng rời. Bấy giờ vị nữ lưu này làm dấu thánh giá và tôi cố làm dấu như bà, mặc dù tay tôi run lẩy bẩy. Thế là tôi bắt đầu lần hạt mân côi, trong khi đó vị nữ lưu này lấy ngón tay đưa hạt chuỗi mà không nhép miệng gì cả. Khi tôi hết đọc Kinh Kính Mừng thì bà liền biến đi.

 

“Tôi hỏi hai cô bạn của mình xem họ có thấy được điều gì chăng, họ nói không. Dĩ nhiên họ muốn biết tôi đã làm gì, và tôi cho họ biết rằng tôi đã thấy một vị nữ lưu mặc bộ áo trắng đẹp, mặc dù tôi không biết bà ấy là ai. Tôi dặn họ đừng nói điều gì về câu chuyện này, và họ cho tôi rằng tôi ngớ ngẫn với những thứ ấy. Tôi nói là họ sai rồi, và tôi đã cảm thấy bị thúc đẩy trở lại nơi này vào hôm Chúa Nhật sau đó…

 

“Lần thứ ba tôi đến đó thì vị nữ lưu này đã mở miệng nói với tôi và xin tôi hãy trở lại hằng ngày trong vòng 15 ngày. Tôi nói tôi sẽ làm như thế, đoạn bà bảo tôi rằng bà muốn tôi nói với các vị linh mục hãy xây cất lên một nguyện đường ở đó. Bà cũng bảo tôi hãy uống nước ở rạch nước. Tôi đã đến con sông Gave là giòng nước duy nhất tôi thấy. Thế rồi bà làm tôi nhận ra rằng bà không nói về con sông Gave, mà là một tia nước nhỏ gần chỗ tôi đứng. Tới nơi, tôi chỉ thấy có một vài giọt nước, còn toàn là bùn. Tôi chụm tay lại để hớt lấy một chút nhưng không được, tôi liền cào đất lên. Tôi cố tìm lấy một ít giọt nước, nhưng mãi vào lần thứ bốn tôi mới có đủ lượng nước để uống. Đoạn người nữ biến đi và tôi trở về nhà.

 

“Tôi đã trở lại đấy 15 ngày, trừ một ngày Thứ Hai và một ngày Thứ Sáu, và lần nào bà cũng hiện ra và bảo tôi tìm một rạch nước mà tắm cũng như để xem chuyện các vị linh mục xây nguyện đường ở đó thế nào. Bà nói tôi cũng phải cầu nguyện nữa để cầu cho tội nhân ăn năn cải thiện đời sống. Tôi đã hỏi bà nhiều lần về ý định của bà, song bà chỉ mỉm cười. Sau cùng, với cánh tay giang ra và đôi mắt ngước lên trời, bà bảo tôi rằng bà là Đấng Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội.

 

“Trong 15 ngày đó, bà đã nói với tôi ba điều bí mật, nhưng tôi không được phép nói với ai cả, và tôi vẫn giữ cho tới nay”.

 

Trong chuyến Tông Du cuối cùng của mình, chuyến  tông du 104, chuyến tông du đến Lộ Đức 15/8/2004 – ĐTCGPII đã ban Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật ở Prairie de la Ribère như sau:

 

“Từ tảng đá ở động Massabielle, Vị Trinh Nữ này đã hiện ra với Bernadette. Tỏ mình ra như Đấng đầy ơn phúc của Thiên Chúa, Mẹ đã kêu gọi thống hối và nguyện cầu. Mẹ đã chỉ cho Bernadette một mạch nước, và xin em uống mạch nước này. Mạch nước mới mẻ ấy đã trở thành một trong những biểu hiệu của Lộ Đức: một biểu hiệu của sự sống mới được Chúa Kitô ban cho tất cả những ai hướng về Người. Kitô Giáo thực sự là một suối nước sự sống, và Mẹ Maria là bảo quản viên đầu tiên của suối nước này. Mẹ chỉ nó cho tất cả mọi người thấy, bằng cách kêu mời họ từ bỏ cái kiêu hãnh của mình mà học sống khiêm hạ, nhờ đó họ mới có thể kín múc được tình thương của Con Mẹ và từ đó mới cùng nhau hoạt động cho bừng lên một nền văn minh yêu thương”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL