Cảm Nghiệm Mục Vụ Của Lm Antôn Quách Thế Bình

(Bài 2)

Sau đây là bài chia sẻ cảm nghiệm thứ hai đề cập về ơn gọi tu trì và những thử thách trong mục vụ linh mục của LM An Tôn Quách Thế Bình, Dòng Chúa Thánh Thần, đang phục vụ ở Đài Loan.

Bài này được phát thanh trên GCM-Tin Yêu(GTY) số 292, ngày 3 tháng 6 năm 2007, trên làn sóng AM 1480 và www.memaria.org.

“Tình yêu Thiên Chúa và Mẹ Maria đã làm cho tôi quên những đau khổ, thất vọng của thời niên thiếu. Trên đường vượt biên đường bộ, tôi gặp thất bại, bị tù, rồi tôi phải đi ăn xin để trở về lại Việt Nam. Tôi sống kiếp ăn xin, từng chặng đường, từng khúc quanh của cuộc đời, tôi gặp những người không quen đưa tay giúp đỡ, cho tôi từng miếng cơm, từng ngụm nước lã. Về lại Việt Nam rồi thì sau đó, tôi lại đi vượt biên bằng thuyền và đến Mỹ thành công.

Tôi nghĩ chặng đàng từ Battambang trở lại Việt Nam hình như là một biểu tượng cho cuộc đời tôi, và giúp tôi hiểu rằng cuộc sống tôi sau này là một cuộc lữ hành liên tục. Tôi như một lữ khách đi trên những chặng đàng quanh co, nhưng luôn có bóng dáng Mẹ Maria củng đau khổ và đồng hành với tôi. Tôi phải thực hiện những lý tưởng và mục đích mà Chúa đã dành cho tôi.

Sự kiện một người phụ nữ Cambodia cho tôi bánh và lương thực đã trở nên thần lương làm cho tôi có đủ nghị lực trong tim để hy vọng, cho tôi no thỏa đời sống tâm linh và được no thoả đời sống thể xác.

Rồi khi qua Mỹ, bà Sơ Angela Berger thuộc Dòng Thánh Giuse đã giúp đỡ tôi trong ơn gọi. Năm 1983, tôi chính thức gia nhập chủng viện Dòng Benedictine Conception. Trong thời gian học 4 năm tại đây, tôi gặp nhiều khó khăn: các thầy đều là người Mỹ, còn tôi là người Việt Nam duy nhất, mới đến Mỹ có 6 tháng mà phải học triết bằng tiếng Anh. Tiếng Anh của tôi chỉ mới bập bẹ, còn đầy accent ( âm điệu) ngoại quốc nên khi tôi nói thì họ không hiểu gì cả. Họ cứ hỏi đi hỏi lại, làm cho tôi đau khổ vô cùng. Vì thế, cha Giám đốc chủng viện nói với tôi rằng:

“Tiếng Anh của cậu quá kém! Cậu nên về học Anh văn thêm vài năm nũa rồi hãy vào lại chủng viện.”

Nghe cha nói như thế, thì tôi buồn qúa nên đến quỳ trước tượng Đức Mẹ Fatima và than thở với Mẹ:

“Thưa Mẹ, Mẹ đã đặt con ở đây, xin Mẹ giúp đỡ con. Họ nói ngôn ngữ của họ, mà con phải dùng một ngôn ngữ lạ để học các lớp triết và lịch sử. Con nghe tiếng Anh như vịt nghe sấm. Mẹ ơi, xin Mẹ giúp con đi! Xin Mẹ giúp con nghe Mẹ!”

Và Mẹ đã ra tay, lúc ấy có một thầy tên Jeff, một sinh viên xuất sắc, học năm thứ ba lớp triết, đến gặp tôi và nói rằng:

“Tự nhiên, tôi không hiểu vì lý do nào mà tôi cảm thấy bạn cần tôi giúp. Tôi sẽ giúp bạn viết bài, chép bài, và khi bạn nộp bài, tôi sẽ sửa bài cho bạn.”

Thế là thầy Jeff tận tình giúp đỡ tôi trong năm đầu. Đến cuối năm thứ hai thì tôi đứng hạng hai trong lớp. Các năm thứ 2, thứ 3 và thứ 4 thì tôi trở nên sinh viên xuất sắc nhất trong trường học. Lời của cha Giám Đốc đã thách thức tôi. Một mình thì tôi không làm được gì nhưng với Mẹ Maria, tôi có thể làm được mọi sự. Tôi học xong 4 năm lớp triết. Sau đó, tôi lên học Thần học ở Ohio, trong Giáo Hoàng Học Viện thêm 4 năm nữa. Đến năm 1991, tôi được thụ phong linh mục, và trở nên linh mục của giáo phận Wichita, Kansas.

Tuy làm linh mục triều nhưng trong lòng tôi cảm thấy hình như Mẹ muốn tôi đi một con đường khác. Làm linh mục triều được 4 năm ở giáo xứ St. Anne, tôi được mọi người yêu mến, tôi lại có thể giúp đỡ cho chị và các cháu, nhưng tôi vẫn cảm thấy hình như Đức Mẹ muốn tôi đi đến một nơi cần tôi nhiều hơn.

Một đêm, tôi mơ thấy mình và một đám đông các trẻ thơ múa trong một hang động ở vùng Á Đông, có một điệu nhạc thiêng liêng, cảnh tượng thật siêu nhiên. Các em nhỏ ấy mặc quần áo với đủ mọi màu sắc. Tôi bèn nhớ đến một vị linh mục vốn là giáo sư của tôi ở chủng viện. Ngài là linh mục của Dòng Chúa Thánh Thần. Ngài nói các linh mục Dòng Chúa Thánh Thần này biến mình nhẹ như lông tơ hồng để Chúa làm việc, và hướng dẫn ta đến những nơi khác đang cần ta, để giúp những người bị thẩy ra vỉa hè của xã hội mà không ai giúp đỡ.

Thế là tôi xin Đức Cha cho tôi được gia nhập Dòng Chúa Thánh Thần. Lúc đầu, Đức Cha khước từ vì giáo phận thiếu linh mục. Nhưng tôi cứ tiếp tục xin ngài và cầu nguyện. Sau cùng, ngài cho phép tôi được tìm hiểu Dòng Chúa Thánh Thần.

Tại Dòng Chúa Thánh Thần này, tôi gặp rất nhiều thử thách, và tôi biết Chúa muốn tôi phải nhỏ bé đi. Tôi chịu nhiều sự hiểu lầm, chỉ trích, bị va chạm cá tính. Qua kinh nghiệm và những thử thách cam go, Chúa gọt tỉa những góc cạnh không cần thiết, để tôi nhỏ đi và Chúa lớn lên. Ngài muốn tôi trở nên một cái bình trống không để Chúa đi vào lòng tôi. Những khó khăn trong cuộc sống của tôi, từ một linh mục triều bước sang một linh mục dòng là nhờ ơn Mẹ Maria và ơn Chúa Thánh Thần. Những đau khổ và thử thách là cơ hội tốt để tôi biến nhưng phân bã của cuộc đời thành phân bón của cuộc đời. Tôi nhận ra rằng nhưng thử thách chung quanh làm nẩy ra những đóa hoa mà tôi hằng khao khát dâng lên Mẹ.

Năm 1995, khi tôi vào Dòng Chúa Thánh Thần một thời gian thì tôi đi học lấy bằng tiến sĩ Triết lý Các Tôn Giáo. Tôi mới nhận thấy rằng trong các triết lý sống chỉ có một linh đạo duy nhất là linh đạo Chúa Thánh Thần: ta phải nhỏ bé đủ để Chúa lớn lên, mãi mãi Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, cho dù chúng ta đi trong bóng đêm không hy vọng.

Tôi tiếp tục đi phục vụ tại Đài Loan và Việt Nam. Đài Loan là nơi quan trọng và cần nhiều ơn gọi. Trong gần 2 năm qua, một cha bề trên ở Roma ngỏ ý muốn tôi giúp ngài trong chương trình truyền giáo ở Việt Nam vì tôi có bằng cấp về Triết Đông. Cha muốn tôi về Việt Nam và Đài Loan để cộng tác và làm việc. Tôi đã đồng ý đến Đài Loan để khởi sự xây nhà Dòng. Thề rồi tôi quyết định rời Mỹ để đến Đài Loan.

Khi ngồi trên máy bay từ Houston đến Đài Loan, tôi đã khóc rất nhiều. Nếu tôi an phận ở lại, tôi cũng vẫn có thể giúp được rất nhiều người ở Mỹ, trong các phong trào như Thăng Tiến Hôn Nhân, các phong trào Công Giáo Tiến Hành. Tại sao tôi lại đến một nơi mà tôi không quen, không biết ngôn ngữ của họ? Nhưng rồi tôi ý thức rằng Mẹ Maria và Chúa Thánh Thần muốn tôi đến Đài Loan.

Khi đến Đài Loan, tôi bắt đầu học ngôn ngữ tiếng Tàu. Có Chúa giúp nên chỉ trong 3, 4 tháng là tôi học khá, nói được tiếng Tàu, giảng cấm phòng bằng tiếng Tàu. Các linh mục ngạc nhiên. Tôi dùng tranh và hoạ đồ để giải thích bài giảng. Một giáo sư đại học đến nghe tôi giảng và nhận xét là dù tiếng Tàu của tôi dù chưa đủ nhưng tôi có triển vọng giảng hay. Tôi chợt khám phá ra rằng có thể đây là ơn gọi vì tôi có bằng Triết Đông Phương, có những kinh nghiệm sống mà tôi tìm thấy, đó là do ân sủng của Đức Mẹ Maria ban cho.

Tôi siêng năng học, viết và mỗi ngày tôi viết một bài văn bằng tiếng Tàu. Tôi tập nói và đọc tiếng Tàu, dâng Thánh lễ và giảng thuyết bằng tiếng Tàu.

Ở Đài Loan, tôi giúp cho gia đình các anh em công nhân người Việt Nam, Phi Luật Tân, các cô dâu Việt Nam. Hoàn cảnh các công nhân Việt Nam thật là bi đát, bị lợi dụng, bị loại ra những vỉa hè của xã hội bởi những kẻ có quyền thế, bởi chính quyền Việt Nam.

Có đến hơn 100 ngàn cô dâu Việt Nam lấy chồng Đài Loan. Chỉ có 30% cô dâu tương đối có đời sống ổn định vì người chồng tốt, còn 70% cô dâu thì bị ức hiếp, lợi dụng, bắt làm trong các ổ mãi dâm. Những người Việt Nam kém may mắn này bị đi từ cái thô bỉ này đến cái thô bỉ khác, bị lợi dụng nặng nề đến nhân quyền và nhân phẩm.

Cha Hùng ở Đài Loan đã nhận một số cô dâu và giúp các cô thoát ra khỏi hoàn cảnh bi đát để tìm sự ổn định trong đời sống. Còn tôi thì cứ hai tuần tôi đến cố vấn tâm lý cho các cô dâu một lần. Đa số các cô dâu chỉ có trình độ học cấp 1, nên không thể diễn tả hết các nỗi khúc mắc cuộc đời, không thể nói hết những đau khổ được, nhưng tôi cảm nhận, cảm thông và nói về tình yêu của Chúa dành cho họ. Họ đang dần dần hồi phục vì những vết thương lòng quá nặng.

Tôi cũng đang có ý định về Việt Nam xây dựng nhà Dòng Chúa Thánh Thần. Đầu tháng 9 năm 2007, nhà dòng Chúa Thánh Thần có ba linh mục về Việt Nam, gồm 2 cha nước ngoài và một cha Việt Nam về huấn luyện chủng sinh, nhân sự, tu sĩ, để truyền giáo cho người Á Đông, nhất là bên Tàu (Trung Hoa lục địa).

Ở Á Châu đang cần nhiều linh mục đem tình yêu của Chúa và của Mẹ Maria cho họ. Đức Mẹ Maria tuy ở Thiên Đàng nhưng lòng Mẹ ở trần gian. Mẹ hiện ra khắp nơi với chúng ta, dạy ta chọn lựa những giá trị mang lại cuộc sống hạnh phúc, viên mãn, những giá trị vĩnh hằng. Có nhiều người sa vào những sa mạc không lối thoát.

Tôi cảm nhận tình yêu và hương vị tình yêu của Thiên Chúa, tôi thấy có những người đau khổ về tinh thần, nhưng cũng có những người đau khổ về vật chất và tinh thần. Càng có nhiều hương vị của đau khổ thì tôi càng cảm nhận tình yêu của Mẹ Maria và Chúa Thánh Thần. Như vậy để chúng ta biết rằng mình không vác thánh giá một mình. Chúa luôn biến những phân bã của cuộc đời thành những phân bón của cuộc đời, biến nhưng đau khổ, thất vọng, tuyệt vọng thành những cơ hội phát huy giá trị cao đẹp trong tâm hồn, và tâm linh.

Tôi đà từng cố vấn tâm lý cá biệt tổng quát cho những cô dâu lấy chồng người Đài Loan. Đa số những người chồng này không lành mạnh về tâm lý, thể xác, là người già, có vấn đề, hoặc thuộc xã hội đen. Họ đến Việt Nam để cưới các cô dâu Việt Nam trẻ đẹp. Có những cô gái quê Việt Nam càng đẹp hơn. Họ chỉ mất 10 hay 20 ngàn đô-la mà mua được vợ và là đầy tớ suốt đời. Họ chỉ mất có 500 đô-la để thuê mướn một nhân công.

Họ thủ lợi, hưởng thụ, chà đạp rồi chuyền tay bán người phụ nữ Việt Nam để thu lợi, rồi đưa họ vào các động mãi dâm. Có những trường hợp các cô gái đẹp người Việt Nam bị buộc tiếp khách làng chơi mỗi ngày, trong suốt 1 năm rưỡi. Căn nhà mỗi ngày đều có nhiều khách hàng vào ra tấp nập, nên láng giềng nghi ngờ. Họ bèn báo cáo với cảnh sát đặc vụ. Khi cảnh sát gài người vào thì tìm thấy 3 cô gái Việt Nam rất trẻ và đẹp. Có một cô còn đẹp hơn một tài tử nổi tiếng nhất của Đài Loan. Mỗi ngày họ bị tiếp 7, 8 người khách. Trong ba năm, họ không nhận được lấy 1 xu thù lao nào. Họ không có tương lại, không còn chút nhân phẩm. Rồi họ bị đem lên TV, bị đẩy về Việt Nam. Mọi hy vọng của họ sụp đổ tan tành. Thân xác ô nhục, tương lai không có gì.

Tôi cảm thấy rất đau khổ nên luôn giúp đỡ những trường hợp như thế. Có những cái nghèo thô bỉ nhưng có những cái nghèo làm cho người ta mất hết nhân quyền và nhân phẩm. Thân xác và nhân phẩm họ bị chà đạp. Đây là một tội lỗi nặng nề, xúc phạm đến phụ nữ Việt Nam, dân tộc Việt Nam, biến người Việt Nam làm nô lệ. Đó là những việc không nên làm. Tôi xin Chúa giúp để mọi người ý thức, cộng tác tranh đấu cho nhân quyền và nhân phẩm con người.”

Suy niệm:

Việc nô lệ tình dục xẩy ra nhan nhản ở các nước châu Á, nạn lợi dụng xác thịt các trẻ thơ xẩy ra ở Cambodia và Thái Lan, nạn buôn bán và nô lệ tình dục qua việc các cô dâu Việt Nam đem thân làm vợ người Đài Loan, nạn các công nhân người Việt Nam bị lợi dụng và bạc đãi…Đó là những vết thương nặng nề cho các nạn nhân mà còn cho tất cả người Việt Nam ở khắp thế giới, làm cho những ai còn có lương tâm với dân tộc phải xót xa và đau đớn. Chúng ta có thể làm được những gì để chấm dứt những tệ nạn thô bỉ và độc ác ấy? Ai sẽ lãnh đạo các cuộc tranh đấu cho nhân quyền và nhân đạo này?

Kim Hà, 31/5/07