Dư âm Da Vinci Code

Trước hết mời quý vị nhìn lướt qua bảng tóm lược


Tổng hợp Da Vinci Code


Tiếp theo là một vài suy tư về


Hình phạt và Ân sủng


Còn gì để quý mến


Cuối cùng, Xin quý độc giả lựa chọn


Cuốn Phúc Âm hay cuốn Phim
Sứ Số 15 Ngày 22 . 05 . 2006


 

Tổng hợp 'Da Vinci Code'
Pt Giuse Trần Văn Nhật
Trích nguoitinhuu.com

 

  1. "Da Vinci Code" là gì?


    Đó là một cuốn tiểu thuyết được nhà xuất bản Doubleday cho phát hành vào tháng Ba 2003 và được quảng cáo rầm rộ. Kết quả là cuốn này đứng đầu danh sách bán chạy nhất của New York Times với hàng triệu ấn bản. Trong năm 2006 một cuốn phim sẽ được ra mắt dựa trên tiểu thuyết này.

     

  2. "Da Vinci Code" nói về cái gì?


    Đó là một câu chuyện giật gân bao gồm nhiều tổ chức bí mật, các âm mưu, Giáo Hội Công Giáo, và "sự thật" giả tưởng về Đức Giêsu Kitô. Đây là phần tóm lược của chính tác giả Dan Brown:


    Một chuyên gia biểu tượng (symbologist) nổi tiếng của Harvard được mời đến Viện Bảo Tàng Louvre để khảo cứu một loạt bí ẩn có liên hệ đến các tác phẩm của nhà danh họa Da Vinci. Trong khi tìm hiểu các bí ẩn ấy, ông khám phá ra yếu tố then chốt của một trong những bí ẩn lớn lao nhất của mọi thời đại... và ông trở nên một người bị săn đuổi.


    Qua tình tiết của câu chuyện, tiểu thuyết này cho rằng chính Giáo Hội Công Giáo luôn luôn duy trì một âm mưu lớn lao, kéo dài hàng thế kỷ để che giấu không cho công chúng biết "sự thật" về Đức Giêsu Kitô, và các tay sai của Giáo Hội sẵn sàng thi hành bất cứ gì có thể, kể cả việc giết người, để duy trì âm mưu đó.

     

  3. Danh họa Leonardo da Vinci có dính dáng gì đến câu chuyện này?


    Da Vinci được miêu tả là một cựu thủ lãnh của âm mưu nhằm bảo vệ "sự thật" về Đức Giêsu Kitô. Trong tiểu thuyết, ông ta được cho rằng đã cài đặt những dấu hiệu bí mật và mã số trong các tác phẩm của ông, nhất là trong bức tranh Tiệc Ly. Theo cuốn tiểu thuyết, bức tranh này có vẽ người vợ của Đức Giêsu, là Maria Mađalêna, ngồi bên cạnh như một biểu hiệu quan trọng trong những giảng dậy của Đức Giêsu. Trên thực tế, nhân vật mà tác giả Dan Brown cho là Maria Mađalêna thì đó là Thánh Gioan Tông Đồ, người mà truyền thống thường coi là vị tông đồ trẻ nhất và vì thế các bức tranh thời trung cổ thường vẽ ngài không có râu.

     

  4. Tại sao người Công Giáo phải lưu tâm đến cuốn tiểu thuyết này?


    Tuy là một truyện giả tưởng, cuốn sách này tự cho là một công trình nghiên cứu tỉ mỉ, và qua nhiều trang giấy nó muốn người ta nghĩ rằng nó dựa trên sự thật. Ngay ở đầu sách nó có cả một trang "dữ kiện" nhấn mạnh đến tính chất được cho là có thực của các ý tưởng đặc biệt trong sách. Kết quả là nhiều độc giả, Công Giáo hay không Công Giáo, đều coi các ý tưởng đó là quan trọng.


    Vấn đề là cuốn sách này đưa ra nhiều ý tưởng không đúng sự thật, và chúng đi thẳng vào cốt lõi của đức tin Công Giáo. Thí dụ, cuốn tiểu thuyết này cổ võ các ý tưởng sau:


    Người Công Giáo phải lưu tâm đến cuốn sách này vì nó không chỉ sai lầm trình bầy Giáo Hội như một tổ chức giết người nhưng nó còn ngụ ý rằng đức tin Kitô Giáo thì thực sự lầm lạc.

     

  5. Ai là tác giả cuốn tiểu thuyết này?


    Tác giả là Dan Brown. Ông ta nguyên là một thầy giáo Anh Văn từng viết ba cuốn sách. Hai cuốn đầu, Digital Fortress và Deception Point, là những cuốn giật gân thời đại. Với cuốn tiểu thuyết thứ ba, Angels & Demons, ông quay sang kiểu giật gân dính dáng đến tôn giáo và Tòa Thánh Vatican. Cuốn Da Vinci Code tiếp tục chiều hướng đó, và nó nổi tiếng đến độ cứu vãn được số bán của các cuốn trước.


    Ông Brown dự định dùng cuốn The Da Vinci Code như một bàn đạp cho hàng loạt sách tương tự sẽ dùng đến người hùng của câu chuyện là Robert Langdon, và nhân vật sẽ "đặt chân đến Ba Lê, Luân Đôn và Hoa Thịnh Đốn" để khám phá ra các "sự thật" khác.

     

  6. Luận điệu của cuốn sách về Priory of Sion là gì?


    Theo trang "sự thật", Priori of Sion là một tổ chức bí mật có thật ở Âu Châu được thành lập năm 1099. Vào năm 1975, Bibliothèque Nationale (Thư Viện Quốc Gia) ở Ba Lê tìm thấy các mảnh giấy da được gọi là Les Dossiers Secretes (Hồ Sơ Mật), trong đó kể ra một lô phần tử của tổ chức Priori of Sion, kể cả Isaac Newton, Botticelli, Victor Hugo, và Leonardo da Vinci.


    Cuốn tiểu thuyết này tiếp tục vẽ vời Priori of Sion như một tổ chức bí mật nhằm bảo vệ dòng giống của Đức Giêsu và bà Maria Mađalêna. Vì nó được cho là nắm giữ bí mật về dòng giống này nên bị Giáo Hội Công Giáo bách hại. Tổ chức này còn tận tụy tôn thờ "nữ thần" và tổ chức các cuộc truy hoan như một hình thức thờ phượng.

     

  7. Les Dossiers Secretes (Hồ Sơ Mật) là gì?


    Đó là một lô tài liệu được tìm thấy trong Bibliothèque Nationale mà có vẻ nó đã thiết lập phả hệ lịch sử của tổ chức bí mật Priory of Sion. Các tài liệu này được phổ biến trong những năm 1970 và được dùng làm nền tảng cho các cuốn Holy Blood, Holy Grail, The Messianic Legacy, và sau này, cuốn The Da Vinci Code. Các tài liệu này được thành hình bởi một nhóm đứng đầu là Pierre Plantard, người bị kết tội lừa đảo.


    Tuy cuốn The Da Vinci Code tiếp tục coi tài liệu này là xác thật, nhiều văn sĩ về loại "lịch sử" bí mật cho rằng chúng giả mạo. Ngay cả các tác giả cuốn Holy Blood, Holy Grail, và The Messianic Legacy sau này cũng đặt vấn đề.

     

  8. Câu chuyện thật của tổ chức Priori of Sion là gì?


    Priori of Sion là một nhóm được thành lập năm 1956 bởi bốn thanh niên người Pháp. Hai người là André Bonhomme (là chủ tịch khi thành lập) và Pierre Plantard (trước đó bị sáu tháng tù vì tội gian lận và biển thủ).


    Tên của nhóm này được đặt theo một ngọn núi ở Pháp (Col du Mont Sion), chứ không phải núi Sion ở Giêrusalem. Nó không dính dáng gì đến các thuộc Thập Tự Chinh, hoặc các phong trào trước đây nhằm du nhập tên "Sion" vào tên của họ.


    Nhóm này tan vỡ sau một thời gian ngắn, nhưng sau đó Pierre Plantard phục hồi lại, tự cho rằng hắn là "đại thủ trưởng" của tổ chức, và bắt đầu đưa ra các luận điệu về tính chất cổ điển của nhóm, các phần tử lúc đầu, và các mục đích thực sự. Chính Pierre là người cho rằng tổ chức này phát xuất từ các cuộc Thập Tự Chinh, hắn (cùng với các cộng tác viên sau này) đã sáng tác và thêm mắm muối cho Les Dossiers Secretes trong Bibliothèque Nationale, và hắn dựng ra câu chuyện là tổ chức này từng bảo vệ một hoàng tộc bí mật mà một ngày nào đó sẽ trở lại nắm quyền chính trị.

     

  9. Đâu là bằng cớ cho rằng đây là gốc gác đích thật của tổ chức Priori?


    Sau khi những luận điệu của tên Plantard về tổ chức Priori được công chúng chú ý, các cộng tác viên của hắn trước đây lại mâu thuẫn với hắn. Vào năm 1996 trong một công bố được người chủ tịch đầu tiên là André Bonhomme đưa ra cho đài BBC, ông khẳng định:


    Tổ chức Priori of Sion không còn hiện hữu nữa. Chúng tôi không bao giờ dính dáng đến bất cứ hoạt động nào có bản chất chính trị. Đó là bốn người bạn đến với nhau cho vui. Chúng tôi tự gọi mình là Priori of Sion vì có một ngọn núi cùng tên ở gần đó. Tôi chưa từng gặp Pierre Plantard trên hai mươi năm qua và tôi không biết hắn có ý định gì nhưng hắn luôn luôn có óc tưởng tượng dồi dào. Tôi không hiểu tại sao người ta lại làm lớn chuyện từ một điều chẳng là gì cả.


    Chính đài BBC kết luận:


    Không có một chứng cớ nào về tổ chức Priori of Sion mãi cho đến thập niên 1950; để tìm ra tổ chức này, bạn phải đến một thành phố nhỏ tên là St. Julien. Theo luật lệ của Pháp, mọi câu lạc bộ hay tổ chức mới đều phải đăng ký với nhà chức trách, và đó là lý do tại sao có một hồ sơ ở đây cho thấy rằng tổ chức Priori of Sion đã điền đầy đủ giấy tờ vào năm 1956. Theo một phần tử sáng lập, tên của tổ chức kỳ cục này không phải xuất phát từ Giêrusalem nhưng từ một ngọn núi gần đó (cao khoảng 786 mét). Hồ sơ này cũng viết rằng Pierre Plantard, đại thủ trưởng tự xưng, nhân vật chính của câu chuyện này đã từng bị tù một thời gian.

     

  10. Cuốn The Da Vinci Code nói gì về Opus Dei?


    Theo trang "sự thật": Một phủ giám hạt của Vatican gọi là Opus Dei, là một bè phái Công Giáo rất đạo đức từng là đề tài của cuộc tranh luận mới đây vì những việc tẩy não, ép buộc, và một thực hành nguy hiểm gọi là "phạt xác." Opus Dei vừa mới hoàn tất việc xây cất National Headquarters (Tổng Hành Dinh Quốc Gia) trị giá 47 triệu ở số 243 đường Lexington Nữu Ước.


    Cuốn tiểu thuyết này tiếp tục diễn tả Opus Dei là "một Giáo Hội Công Giáo" và trình bầy nó như một đan viện với các phần tử có nhiệm vụ ám sát.

     

  11. Lịch sử thật sự của Opus Dei là gì?


    Theo vị giám đốc liên lạc của Opus Dei Hoa Kỳ, ông Brian Finnerty:


    Opus Dei được thành lập ở Tây Ban Nha vào năm 1928 bởi một linh mục Công Giáo, Thánh Josemaria Escrivá, với mục đích cổ vũ sự thánh thiện của giáo dân. Tổ chức này bắt đầu gia tăng với sự hỗ trợ của các giám mục địa phương và được chuẩn nhận như một giáo hoàng học viện đời bởi Tòa Thánh vào năm 1950. Hoạt động của Opus Dei từng được chúc lành và được khuyến khích bởi các Giáo Hoàng Gioan XXIII, Phaolô VI, Gioan Phaolô I và Gioan Phaolô II. Vào năm 1982, Đức Gioan Phaolô II đặt tổ chức này như một phủ giám hạt tư của Giáo Hội Công Giáo sau khi cẩn thận nghiên cứu vai trò của nó trong sứ vụ của Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã gọi vị sáng lập tổ chức Opus Dei là "vị thánh của đời sống hàng ngày."

     

  12. Opus Dei trong thực tế so sánh với trong tiểu thuyết The Da Vinci Code thì như thế nào?


    Có rất nhiều điểm không đúng trong tiểu thuyết The Da Vinci Code. Sau đây là một số điều hiển nhiên mà ông Finnerty đã xếp loại và phê bình:


     

  13. Tổ chức Opus Dei có phản ứng với nhà xuất bản cuốn tiểu thuyết này không về những miêu tả sai lầm trong sách?


    Có. Ông Finnerty giải thích rằng tổ chức đã gửi một lá thư phản kháng với nhà xuất bản, ông nói:


    "Một ít lâu trước khi phát hành cuốn The Da Vinci Code, chúng tôi có gửi một lá thư cho nhà xuất bản Doubleday để vạch ra một số trong biết bao sai lạc trong tiểu thuyết và giải thích rằng "việc diễn tả tổ chức Opus Dei trong cuốn sách này thì sai lầm và không đúng trong bất cứ phương cách nào."

    Lá thư cũng cho biết thật sự Opus Dei là gì.

     

  14. Cuốn The Da Vinci Code nói gì về nguồn gốc Kinh Thánh?


    Cuốn này viết: "Bạn ơi, Kinh Thánh là một sản phẩm của con người... Không phải của Thiên Chúa... Kinh Thánh, như chúng tôi biết ngày nay, được tổng hợp bởi một hoàng đế ngoại đạo Rôma là Constantine Đại Đế" (231)


    Đây là điều sai lầm. Tiến trình tổng hợp Kinh Thánh phải mất một thời gian dài; nó không chỉ được tổng hợp có một lần. Cũng như Constantine không dính dáng gì đến tiến trình này, dù trước hoặc sau khi ông trở lại Kitô Giáo.

     

  15. Đâu là chứng cớ Kinh Thánh được hình thành độc lập với Constantine?


    Cựu Ước được hình thành trong nhiều thế kỷ. Chúa Giêsu và các tông đồ đã nhận biết giá trị của các bản văn Cựu Ước có trong thời của các ngài, như được minh chứng bởi các câu sau đây:


    Trong thế kỷ thứ nhất các tông đồ và phụ tá viết các sách Tân Ước, và truyền lại cho các thế hệ Kitô Hữu sau này và được đọc trong các nơi phụng tự. Trong thế kỷ thứ hai và thứ ba, các người lạc giáo Gnostic bắt đầu chế ra các văn bản mà họ cho rằng xuất phát từ các tông đồ, nhưng vì các bản văn ấy không được lưu truyền trong các giáo đoàn ngay tự đầu, nên bị tẩy chay. Để phản ứng với các văn bản mới và sai lầm này các giáo đoàn thành lập danh sách các cuốn đích thật được trao truyền từ các tông đồ. Một danh sách nổi tiếng về các bản văn thánh được thành hình từ giữa thế kỷ thứ hai gọi là Chính Lục Muratori.


    Tiến trình mà bộ Kinh Thánh được hình thành phần lớn hoàn tất vào thời Constantine (đầu thế kỷ thứ tư), và hoàng đế này không góp phần gì cả. Có một vài cuốn Cựu Ước (ngày nay gọi là ngụy thư) vẫn tiếp tục được thảo luận vào thời Constantine, cho đến cuối thế kỷ thứ tư-điều này cho thấy thêm là hoàng đế không tổng hợp bộ Kinh Thánh. Không một học giả Kinh Thánh nào cho rằng Constantine đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành Thánh Kinh. Dan Brown hoàn toàn sai lầm.

     

  16. Cuốn The Da Vinci Code nói gì về việc Giáo Hội tiên khởi xác nhận thiên tính của Đức Kitô?


    Đề cập đến Công Đồng đầu tiên là Nicaea, được triệu tập năm 325, cuốn The Da Vinci Code viết:


    Cho đến thời gian đó trong lịch sử, Đức Giêsu được các môn đệ coi như một ngôn sứ phải chết... một người vĩ đại và có quyền phép, nhưng chỉ là một con người... Bởi xác nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Constantine đã biến Đức Giêsu thành một vị thần.


    Đúng là Constantine chủ tọa Công Đồng Nicaea, nhưng không đúng là Constantine "biến Đức Giêsu thành một vị thần" hoặc cho rằng Kitô Hữu không coi Đức Giêsu như một Thiên Chúa trước khi có biến cố này.


    Constantine đã triệu tập Công Đồng để giải quyết một tranh chấp được xảy ra khi một linh mục người Ai Cập tên là Arius từ chối thiên tính của Đức Giêsu, gây nên xôn xao trong dư luận ông vì chối bỏ điều mà các Kitô Hữu ở khắp nơi tin như vậy. Arius được một số người ủng hộ và sự tranh luận giữa phe Arius với Kitô Hữu truyền thống gia tăng mãnh liệt đến độ hoàng đế Constantine phải triệu tập Công Đồng để giải quyết vấn đề. Về cá nhân, Constantine có vẻ hỗ trợ lập trường của phe Arius, nhưng ông công nhận thẩm quyền của các giám mục khi phát biểu một cách hùng hồn về đức tin Kitô Giáo, và các giám mục trong Công Đồng đã tái xác nhận giáo huấn truyền thống của Kitô Giáo khi tin rằng Đức Giêsu thực sự là Thiên Chúa. Như vậy chính các giám mục của Công Đồng Nicaea là người tái xác nhận lập trường cố hữu của Kitô Giáo chống với phe Arius. Constantine xác nhận là các giám mục có quyền làm như vậy bất kể rằng chính ông mong muốn một kết quả khác hơn.

     

  17. Đâu là chứng cớ việc Kitô Hữu coi Đức Kitô là Thiên Chúa trước khi có Công Đồng Nicaea?

    Thiên tính của Đức Kitô được nhấn mạnh nhiều lần trong Tân Ước. Thí dụ, chúng ta được biết rằng các địch thủ của Đức Giêsu tìm cách giết Người vì Người "gọi Thiên Chúa là Cha, coi mình ngang hàng với Thiên Chúa" (Gioan 5:18).


    Khi bị bắt bẻ là làm sao Người biết rõ về ông Abraham, Đức Giêsu trả lời: "Thật, tôi bảo thật các ông, trước khi có Abraham thì tôi hiện hữu [I AM]" (Gioan 8:58), Người đã gợi lại và áp dụng cho chính mình tên riêng của Thiên Chúa-"Đấng Tự Hữu" (I AM) (Xh 3:14). Đám đông hiểu Người muốn nói gì, "Bởi vậy họ lấy đá ném Người; nhưng Đức Giêsu lẩn tránh và ra khỏi đền thờ"(Gioan 8:59).


    Trong Gioan 20:28, ông Tôma phủ phục dưới chân Đức Giêsu, kêu lên, "Lậy Chúa, lậy Thiên Chúa của con!" Và Thánh Phaolô cho chúng ta biết rằng Đức Giêsu đã được chọn để sinh ra trong một hình thể khiêm tốn của loài người dù rằng Người vẫn có thể trong sự vinh hiển với Chúa Cha, vì Người "trong hình thể Thiên Chúa" (Phil 2:6).

     

  18. Cuốn The Da Vinci Code nói gì về sự tương giao giữa Đức Giêsu và bà Maria Mađalêna?


    Tiểu thuyết này cho rằng hai người kết hôn với nhau. Thật vậy, nó nói rằng Đức Giêsu làm cho bà Maria Mađalêna mang bầu, và cả hai có được đứa con gái. Cuốn sách khẳng định:


    Maria Mađalên có thai vào lúc bị đóng đinh trên thập giá. Vì sự an toàn của đứa con sắp sinh của Đức Kitô, bà không còn cách gì hơn là trốn khỏi Đất Thánh... Chính ở nước Pháp mà bà sinh đứa con gái. Tên nó là Sarah.


    Sau này cuốn sách cho rằng sự kết hợp ấy đã làm phát sinh một dòng máu mà vẫn lưu truyền đến ngày nay trong các gia đình quyền thế ở Âu Châu (có cả một trong các nhân vật chính của tiểu thuyết, là Sophie Neveu). Sách cũng cho rằng Giáo Hội Công Giáo biết điều này và che đậy trong nhiều thế kỷ, ngay cả dùng đến việc giết hại các hậu duệ của Đức Kitô để bảo vệ bí mật ấy:


    Đây... sự che đậy lớn lao nhất trong lịch sử nhân loại. Không chỉ có việc Đức Giêsu Kitô kết hôn, mà Người còn là một người cha...


    Giáo Hội tiên khởi sợ rằng nếu dòng dõi này được phép phát triển, sự bí mật giữa Đức Giêsu và Maria Mađalêna sẽ bị lộ tẩy và đặt vấn đề với học thuyết nền tảng Kitô Giáo--đó là Đấng Thiên Sai không giao du thân mật với phụ nữ hay tham dự trong một kết hợp tình dục...

     

  19. Bạn trả lời thế nào về các điều cáo buộc này?


    Đó là sự vô trách nhiệm và xúc phạm khi Dan Brown tấn công đức tin của biết bao người Công Giáo theo kiểu cách này. Ông ta không có chứng cớ chắc chắn để hỗ trợ cho những tranh luận ấy, và khi thiếu các chứng cớ như vậy thì không thể chấp nhận được việc bôi nhọ đức tin của hàng triệu người với các cáo buộc như vậy.


    Một sự bôi nhọ tương tự khi nói rằng người Luther đã giết các hậu duệ của ông Luther hay các vị lãnh đạo Do Thái đã giết các hậu duệ của ông Môsê. Nếu các cáo buộc ấy được đưa ra, nhất là không có chứng cớ, ngay lập tức chúng sẽ được coi như các vu khống đầy ác ý và mù quáng đối với những người coi đó là thánh thiêng.


    Cho rằng người Công Giáo đã giết các hậu duệ của Đức Giêsu là một tấn công hèn hạ và không thể chấp nhận được đối với đức tin của họ. Người có đức tin phải coi Dan Brown như một con người mù quáng đầy ác ý khi đưa ra loại cáo buộc đó.

     

  20. Người ta phải nghĩ gì về luận điệu của The Da Vinci Code khi cho rằng Đức Giêsu kết hôn với bà Maria Mađalêna?


    Không thể nào coi luận điệu ấy một cách nghiêm trọng.


    Lý do mà ông Brown cùng với nhiều người khác (hầu hết là các tác giả New Age) tìm cách coi Maria Mađalêna như vợ của Đức Giêsu thì hiển nhiên: Bà là một trong vài phụ nữ theo Đức Kitô và được nổi bật, tên của bà được biết, và chúng ta không biết bà có kết hôn với ai không. Các phụ nữ khác theo Đức Giêsu đều được biết là đã kết hôn (thí dụ, bà Gioanna vợ của ông Chusa [Luca 8:3] hoặc không quá quan trọng ("bà Maria khác" [Mt. 28:1]) hoặc chúng ta không biết tên của họ (bà Syro-Phoenici [Mt. 15:28]). Nếu ai đó muốn buộc Đức Giêsu vào vai trò kết hôn, bà Maria Mađalêna phải là một trong vài phụ nữ nổi bật và sẵn sàng bị đẩy vào vai trò làm vợ của Đức Giêsu.


    Hơn thế nữa, không có điểm gì trong Tân Ước xác định hay ám chỉ rằng Đức Giêsu kết hôn với bà Maria Mađalêna. Theo Tân Ước, bà là người đạo đức đi theo Đức Kitô và là một trong những người đầu tiên chứng kiến sự Phục Sinh của Người (x. Mt. 28:1), nhưng không phải là vợ. Không có chứng cớ gì trong Tân Ước hay các văn bản của các Giáo Phụ cho rằng bà kết hôn với Đức Giêsu.


    Đức Giêsu còn nói những điều cho thấy rằng Người không kết hôn với ai. Người giải thích rằng một số người tự ý không kết hôn để có thể trọn vẹn tận hiến cho Thiên Chúa. Người nói rằng họ "tự ý là hoạn nhân vì Nước Trời" (Mt 19:12). Người trình bầy sự tự ý không kết hôn như hình thức cao nhất của việc tận hiến, và là vị lãnh đạo tinh thần của Kitô Giáo, khi đưa ra một chuẩn mực như thế mà chính mình thì không giữ được thì đó là điều kỳ lạ.


    Hơn thế nữa, Giáo Hội tiên khởi đồng lòng coi Đức Giêsu là người không kết hôn. Đây không phải là một học thuyết sau này của các Giáo Phụ nhưng là điều được tìm thấy trong chính Tân Ước. Các tác giả Tân Ước thường miêu tả Giáo Hội như "nàng dâu của Đức Kitô" (2 Cor. 11:2; Eph 5:21-33; Kh 21:9-10). Điều ẩn dụ này sẽ không bao giờ thành hình nếu có một "bà Giêsu" bằng xương thịt đang sống đâu đó. Chỉ khi Đức Kitô độc thân thì Giáo Hội mới được miêu tả một cách ẩn dụ là nàng dâu của Người.

     

  21. Dan Brown nói gì về vai trò của bà Maria Mađalêna trong Giáo Hội tiên khởi?


    Brown khẳng định rằng trong các Phúc Âm nguyên thủy, bà Maria Mađalêna chứ không phải ông Phêrô được lệnh thành lập Giáo Hội:


    Theo các phúc âm không bị biến đổi, ông Phêrô không phải là người được Đức Kitô ra lệnh thiết lập Giáo Hội Kitô Giáo. Chính là bà Maria Mađalêna... Đức Giêsu là người bênh vực quyền phụ nữ chính gốc.


    Cũng không có căn bản gì cho luận điệu này. Không có một văn bản nào của Phúc Âm hay bất cứ trích dẫn gì trong Phúc Âm của các tài liệu Giáo Hội tiên khởi của các Giáo Phụ cho thấy điều này được nói ở bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử hình thành các Phúc Âm.


    Viện dẫn đến các phúc âm "không bị biến đổi" bởi Constantine hay các người khác thời Giáo Hội tiên khởi là một điều ngờ nghệch. Không có chứng cớ gì là Constantine đã ra lệnh thay đổi bất cứ bản Kinh Thánh nào. Nếu ai đó muốn cho rằng ông ta đã ra lệnh như vậy, họ phải có thể hỗ trợ điều đó bằng cách kể ra một nguồn tài liệu đương thời, nhưng không có thể tìm thấy một câu nào như vậy. Không có một tài liệu nào còn sót lại trong thời kỳ đó-hay ngay cả các tài liệu của các thế kỷ sau-ghi nhận là Constantine hay ai đó muốn thay đổi văn bản của học thuyết này. Ông Brown tuyệt nhiên không có chứng cớ để hỗ trợ cho luận điệu này.


    Nếu Constantine hay ai đó cố gắng thay đổi Kinh Thánh, người tín hữu Kitô chắc chắn phải từ chối. Giáo Hội Kitô đã từng trải qua một thời kỳ bách hại mà trong đó Kitô Hữu bị thiêu sống vì không chịu khước từ Thiên Chúa và Kinh Thánh mà Người đã ban cho họ. Để cho các văn bản này bị cắt xén là điều không thể tưởng được, và bất cứ toan tính nào muốn thay đổi sẽ tạo nên cuộc tranh luận lớn lao đến độ phải được nhắc đến trong các văn bản của thời đó.


    Sẽ là một điều không thực tế để thay đổi Kinh Thánh, vì hàng ngàn cuốn đã hiện diện trên toàn thế giới Địa Trung Hải, từ Âu Châu cho đến Bắc Phi Châu. Vì không có một trung tâm đăng ký để biết những ai có sách Phúc Âm, do đó không cách chi để theo dõi và thay đổi được. Tuyệt nhiên là có quá nhiều ấn bản đang lưu hành.

Trở lại đầu trang
 



Hình phạt và Ân sủng
Langthangchieutim
Suy niệm hàng ngày

 

Trong nhà thờ họ Molina di Quosa, một giáo xứ nhỏ ở Trung Ý, có một tượng chịu nạn kỳ lạ khung trong một toà kính. Tượng Chúa bị cụt hết ngón tay trái, bụng dưới có những lỗ thủng, đùi trên đầu gối phải giập nát. Hỏi người coi nhà thờ thì ông cho biết:


- Bất cứ ai trong xứ này cũng biết sự việc của tượng. Đó là tượng Chịu Nạn của bọn Đức.


Khách tò mò:


- Sao lại tượng Chịu Nạn của bọn Đức.


Người coi nhà thờ sẽ dẫn khách ra trước cửa chính và trỏ:


- Ông có thấy cái quán Café Enzio Graziani kia không? Vụ này xảy ra ở đó vào tháng 6 năm 1944 đấy. Lúc đó có một đại đội lính Đức đóng tại đây. Viên trung uý đại đội trưởng tên là Heinrich Lohse là một con người hung ác, ai cũng khiếp sợ. Hắn chửi rủa dân làng, la hét, nói tục tĩu và say xỉn. Hắn ghét người Ý tới tận xương tuỷ.


Hôm đó là chiều thứ sáu, trời chập choạng tối, hắn chơi bài trong quán, hắn khấy động và uống nhiều. Miệng thốt ra toàn lời tục tĩu và lộng ngôn. Chúng tôi đâu có hiểu gì, nhưng sợ lắm, vì biết rằng cái lão Henri cao ngỏng (tên riêng chúng tôi đặt cho hắn) trong cơn giận dữ dám làm tất cả mọi chuyện. Cả quán im phăng phắc khi thấy hắn đứng dậy, rút súng lục tiến lại trước tượng Chúa Chịu Nạn treo trên tường. Hắn chĩa súng bắn vào tượng bốn phát. Sau mỗi phát hắn lại nghiến răng như thằng quỷ. Sợ quá! Chúng tôi chuồn sạch. Viên thứ nhất cắt đứt hết ngón tay trái tượng. Viên thứ hai trúng đùi phải, hai viên sau trúng sườn bụng dưới và làm bể hồ trên tường. Hắn cười man dại chạy tới giật tượng xuống, nhổ vào tượng và ném xuống đất kèm theo những lời chửi rủa tục tĩu.


Anh tài xế của hắn tên là Georgis quê ở Turin là người duy nhất còn lại trong quán chứng kiến tất cả vở kịch.


Điều gì đã xảy đến cho con người bất kính hung tợn đó? Bàn tay Chúa đè nặng trên hắn. Tám ngày sau, Georgis lái xe đưa vị chỉ huy của anh đi Florence, xe chạy hết tốc lực trên xa lộ vì trên bầu trời đầy đe doạ. Bốn khu trục cơ của Mỹ đang nhào lộn như bốn con chim mồi trên chiếc xe. Hai chiếc bay đi, hai chiếc ở lại bám riết con mồi và vụt nhào xuống trên chiếc xe. Hắn muốn chơi trò anh hùng? Hay hắn quá sợ chết điếng đi chăng Ai mà biết! Chiếc thứ nhất nhào xuống nhả đạn. Một viên đạn tiện hết ngón tay trái hắn. Hai viên nữa trúng bụng dưới. Chiếc thứ hai nhào xuống, viên trung uý gập đôi người gục vào xe, viên thứ bốn xuyên thủng đùi phải hắn.


Các khu trục bay đi, Georgis từ chỗ nấp chạy ra xe, viên trung uý đang hấp hối. Không tự chủ được, anh thốt lên:


- Tượng Chuộc Tội ! Tượng Chuộc Tội!


Một linh mục cũng từ chỗ nấp chạy tới. Ngài đã chứng kiến cuộc tấn công trên xa lộ và đoán được tai nạn. Ngài cúi xuống trên nạn nhân đang trút máu và mồ hôi, ngài nghe anh ta rên rỉ:


- Thực là bàn tay Chúa.


Rồi thu hết tàn lực anh ta đưa tay phải còn lại làm Dấu Thánh Giá. Heinrich Lohse, con người phạm thượng đã an nghỉ trong bàn tay yêu thương của Chúa như người trộm lành bên phải Chúa.


Cái tin vụ phạm Thánh và hình phạt của Chúa loan đi rất nhanh. Người ta đổ đi tìm tượng Chịu Nạn, tượng nằm trong một thùng chứa quân trang. Cha xứ làm phép lại, cộng đoàn dân Chúa kiệu tượng về nhà thờ gói trong tấm vải đặt trong hộp kiếng. Ngày kỷ niệm thứ hai cả giáo xứ rước Tượng quanh làng với đèn đuốc và ca nhạc tưng bừng. Khách cứ đến quán Café xem các vết đạn trên tường và vào cha xứ, ngài sẽ mở công hàm cho đọc câu chuyện vụ việc có chữ ký xác nhận và chứng thực của anh tài xế Georgis. Khách tự kết luận vụ việc.


Hình phạt và ân sủng. Lòng Nhân Từ và sự Công Bình của Chúa luôn đi đôi với nhau.


oOo

 

Lạy Chúa, đứng trước hiện tượng The Da Vinci Code. Con cầu xin Chúa cũng soi sáng dẫn lối cho những con người đang muốn bóp méo sự thật về Chúa, biết dừng lại những ý nghĩ ngông cuồng để họ biết suy diễn đúng đắn về Con Người và Ơn Cứu Độ của Chúa, cho họ biết quay trở về với Chúa như anh chàng Heinrich Lohse ngông cuồng ngày nào.
 

Trở lại đầu trang

 


Còn gì để quý mến ?
Đinh Vinh Phúc, Paris.


Cuốn sách Da Vinci Code và cuốn phim mới ra làm náo động dư luận. Tôi không muốn đọc sách và xem phim đó, một phần vì không muốn ùa theo trào lưu, một phần vì tất cả những gì dính dáng đến luận đìệu phủ nhận Chúa Cứu Thế đã quen thuộc với tôi từ lâu. Dưới đây tôi chỉ nói qua về khía cạnh văn hóa và chính trị liên hệ đến định mệnh của người Tây phương nhân dịp các cuộc tranh luận về Jésus Christ (viết tắt, J.C.)

Chữ Jésus là tên một nhân vật lịch sử, Jésus de Nazareth, đọc theo tiếng Hy Lạp, Isu. Còn chữ Christ lấy từ Christos, dịch ra từ tiếng Do Thái, có nghĩa là Le Messie, đấng Cứu Tinh, đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Chuộc, đồng nghĩa với chữ Le Sauveur, Le Rédempteur ( như cụm từ các Cha Dòng Chúa Cứu Thế, les Pères Rédemptoristes, ở Sài gòn, Huế, và Hà nội). Nhưng ở VN từ mấy chục năm nay chữ Christos được phiên âm là Kitô. Người VN nghe không hiểu gì hết. Huống chi lại dùng chữ « Đức Kitô « thì lại hàm hồ hơn nữa, vì chữ Christos, trong thánh kính có nghĩa là Chúa, le Seigneur, nay nói theo người Pháp, Notre Seigneur. Người Do Thái không có nhìn nhận Jésus là Christos.

Người Việt khi viết sử ngày nay thường dùng cụm từ « trước hay sau công nguyên «, nhưng sự thực là trước hoặc sau J.C. Nói cách khác nhân vật lịch sử J.C. quen thuộc với người Việt, dưới một hình thức nào đó. Cũng như sự xuất hiện cách chia ngày tháng thành hàng tuần là lấy từ Thánh Kinh.

Chữ « le christianisme «, tiếng Việt gọi là Đạo Thiên Chúa, nói tắt là Đạo Chúa (cũng giống như Đạo Phật, Đạo Khổng).


Còn chữ « Công Giáo « là chỉ một confession, Giáo Hội La Mã, để phân biệt với các giáo hội Tin Lành và Giáo Hội Chính thống, một phần nào cũng giống như Đại Thừa , Tiểu Thừa, tức là các tông trong thế giới Phật Giáo.

Đạo Chúa tức là Đạo do J.C. sáng lập. Nên phân biệt khía cạnh lịch sử, với khía cạnh giáo lý (cũng gọi là thần học, la théologie, danh từ này do Aristode tạo ra, chữ thần ở đây là les dieux, số nhiều, nhưng ngày nay thường có nghĩa Dieu, số ít, theo thánh kinh).


Về lịch sử, những đệ tử của J.C. tường thuật cuộc đời của ngài theo cách nhìn của người Do Thái: J.C. là vị Cứu Tinh, sẽ cứu Iraël khỏi ách thống trị La Mã, và sẽ mở đầu một kỷ nguyên mới. Nhưng năm 70, quân Roma bình địa thành Jérusalem, ý tuởng tái lập chủ quyền quốc gia không còn chỗ đứng cho đến giữa thế kỷ 20. Vậy ý tưởng Le Christos từ đó hoàn toàn có ý nghĩa thiêng liêng, liên hệ đến cả nhân loại.


J.C. được trình bày là con Đức Chúa Trời, với hai đặc ân: sinh ra từ ơn Chúa trong lòng Maria (tức là Đức Bà như nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn, Đức Mẹ, Đức Trinh Nữ , La Sainte Vierge), và sau khi tử nạn, được sống lại ( như ngày lễ Phục Sinh). Kinh Thánh nói như vậy, nhưng đối với các nhà sử học như Renan, thì dĩ nhiên những đặc ân đó chỉ là thuộc lòng tin tôn giáo, ngoài thẩm quyền của sử học.


Từ thời sáng lập, vẫn có những người tìm cách cắt nghĩa sự việc theo lịch sử tự nhiên.

Có ba cách lý giải có tính cách phủ nhận đạo Chúa:

Từ 2000 năm nay, các cuộc bút chiến đại khái theo ba khuynh hướng đó, không kể các tranh luận trong nội bộ của cộng đồng tín hữu thời đạo được sáng lập, từ khi các tín điều phải đối phó với triết học Hy Lạp (tức là ra ngoài thế giới sử học).


Con Đức Chúa Trời là ai? Là Thiên Chúa mặc thân xác con người như bộ áo, hay cũng là một con người thực thụ ? Kể từ 325 (Công Đồng Nicée) đến nay, cộng đồng tín hữu đều nhìn nhận J.C. vừa là Thiên Chúa và là con người, vrai Dieu et vrai homme. Đây là vấn đề giáo lý, mà các dân trí thức quen thuộc với Aristode từ thời Trung Cổ tìm cách điều hòa, giữa Lý trí và Đức Tin (La Raison et la Foi), bằng định luật: Phải tin để hiểu: il faut croire pour comprendre. Đối với Feuerbach, ông thầy của K.Marx, thì dĩ nhiên các tín điều về J.C. thực là ngộ nghĩnh. Nói chi đến quan điểm của giới triết học: cụm từ « Con Đức Chúa Trời « động đến ý niệm Chúa Trời, Dieu, là một đề tài chưa bao giờ gặp sự đồng thuận của triết học. Nói cách dung hoà kiểu Umberto: không chứng minh được có Thiên Chúa không có nghiã là Thiên Chúa không thể có. Ai đã học triết học đều quen với cách lý luận của Descartes và của Kant về đề tài nay.

Còn với người Á đông, các tranh luận về Thiên Chúa trong giới Phật Học VN chẳng hạn là một chuyện bình thường, là vì phật học không có đặt vấn đề Thượng Đế như bên Thiên Chúa Giáo. Sự thức đạo Chúa không xây dựng trên một nền tảng triết học. Người VN hiểu vấn đề này hơn nguời Tây phương, vì ta có danh từ « Đạo « tức là đường đi, khác với chữ religion của người Tây. Không ai trông thấy và miêu tả được Thiên Chúa, vậy « Con Thiên Chúa « là đấng đưa ta tới Thiên Chúa. Mục đích đạo là huớng dấn mỗi một người trong cuộc sống ngắn ngủi, chớ không phải là một triết lý đặt vấn đề nhân loại. Gandhi và Tagore nhìn J.C. như một thiên sứ, mà cuộc đời và lời nói đều huớng về tha nhân. Đạo và đời trong cách nhìn đó dễ thông cảm với nhau, hơn là hoàn cảnh chính trị và trí thức bên Âu Châu.

Người Tây phương đã từ lâu có khuynh hướng chống tôn giáo. Đạo Chúa bên trời Âu một phần dựa vào kinh điển Do Thái và ý niệm xây một xã hội chính trị dưới hình thức một monarchie de droit divin. Khi phong trào cách mạng Pháp nổi dậy, từ từ phái thiên tả cảm thấy là muốn tiêu diệt nhà vua thì cũng phải phá huỷ tôn giáo. Bên Nga với Lénine cũng vậy. Đó là không kể các vấn đề gọi là éthique: thí dụ phá thai, đồng tình luyến ái, mà các đảng xã hội muốn cổ võ, và như vậy luật pháp phải ra ngoài ảnh hưởng tôn giáo.

Nhưng người ta tự hỏi các va chạm đó có là bao mà tiếp tục đả phá tôn giáo (trong cụ thể, đả phá Thiên Chúa Giáo), vào lúc toàn cầu hóa ? Đảng Xã hội bên Ý muốn thành phố Rome trở thành kinh đô các tôn giáo, nghĩa là cho Hồi Giáo nữa, và muốn Âu Châu mở cửa đón nhận Thổ Nhĩ Kỳ để Hồi Giáo cạnh tranh với đạo Thiên Chúa. Nhưng đó có phải là một chọn lựa sáng suốt không ? Nếu 20% hay 30% dân số trong Liên Hiệp Âu Châu là người Hồi Giáo thì nền văn hóa cổ truyền Âu Châu sẽ thế nào ?


Có nên tiếp tục chống đối đạo Thiên Chúa nữa không ? Câu hỏi đó cho đến nay không mấy ai đưa ra. Và dư luận đón tiếp cuốn Da Vinci Code một cách thản nhiên, mà không đặt cái enjeu to lớn: sự tồn tại của nền văn minh Tây phương. Nếu Gandhi và Tagore còn sống, không rõ hai nhà lãnh đạo Ấn Độ này nghĩ gì về cuốn sách mà ảnh hưởng của nó trước sau chỉ có thể làm thiệt hại đến nền tảng thiêng liêng của người Tây Phương. Nếu dư luận bên trời Tây không còn giữ được lòng kính trọng đối với một giá trị thiêng liêng tuyệt vời được thể hiện trong đời sống của J.C. và cả một gia tài văn hóa từ 2000 năm đến nay, thì còn có gì để người Tây phuơng giữ gìn, quý mến nữa ?
 

Trở lại đầu trang

 


Cuốn Phúc Âm Hay Cuốn Phim?
Linh mục Mark Link, S.J.
Trích nguoitinhuu.com


Chủ đề: "Các sách Tin Mừng không phải chỉ ghi lại ngôn từ và hành động của Chúa Giêsu, mà còn giải thích ý nghĩa của những ngôn từ và hành động ấy"


Giả như đội quay phim của đài truyền hình có thể vào trong một chiếc máy khuất phục thời gian để bay ngược trở lại hơn 2000 năm về trước, đến thời của Đức Giêsu đang sống. Giả như họ có thể quay phim cuộc đời của Đức Giêsu từ lúc sinh ra tới lúc Ngài sống lại. Và giả như họ có thể đem cuốn phim ấy trở lại trong cái máy khắc phục thời gian.


Hãy suy nghĩ về chuyện đó. Cuốn phim đó sẽ giúp chúng ta bước vào thế giới của Đức Giêsu đang sống một cách chính xác. Nó cho phép chúng ta nhìn thấy những người mà Đức Giêsu thấy, và tuyệt nhất là nó cho chúng ta thấy được chính Đức Giêsu. Nói cách khác, thay vì đọc bài Tin Mừng hôm nay, thì chúng ta xem cuốn phim thời sự về Ngài. Và hiện tại chúng ta có thể thấy Đức Giêsu đang đuổi bọn buôn bán ra khỏi đền thờ. Chúng ta có thể thấy những biểu lộ trên gương mặt Ngài. Chúng ta có thể nghe được chính những lời Ngài nói ra.


Bây giờ bạn hãy cho phép tôi hỏi bạn một câu. Bạn có muốn đổi bốn cuốn Tin Mừng như chúng ta có hiện nay lấy cuốn phim như thế không? Giả sử rằng bạn không có thể có cả hai thứ. Bạn phải chọn một trong hai, cái này hoặc cái kia, bạn có muốn đổi các sách Tin Mừng lấy một cuốn phim như thế không?
 

oOo


Nếu có ai đòi hỏi một chuyên gia nghiên cứu các sách Tin Mừng câu hỏi ấy, thì sẽ được ông trả lời: "Tôi muốn giữ lại bốn cuốn Tin Mừng". Ông giải thích rất hay. Ông bảo có rất nhiều người đồng thời với Đức Giêsu đã nghe và thấy những điều Chúa Giêsu nói và làm, nhưng họ không hiểu những lời ấy. Nếu chúng ta cũng chỉ có một cuốn phim về đời sống của Đức Giêsu, có thể cuối cùng chúng ta cũng sẽ hiểu lầm những điều Ngài nói và làm ấy. Chúng ta hãy lấy bài Tin Mừng hôm nay làm ví dụ.


Sau khi Chúa Giêsu đuổi các người buôn bán ra khỏi đền thờ,. Các nhà lãnh đạo Do thái tới hỏi Ngài: "Ông làm gì để chứng tỏ cho chúng tôi thấy rằng ông có quyền làm như vậy không?". Chúa Giêsu trả lời; "Hãy phá đền thờ này đi, rồi trong ba ngày Ta sẽ xây lại". Họ hỏi Ngài: "Ông sẽ xây lại đền thờ này trong vòng 3 ngày sao? Ngày xưa tổ tiên ta phải xây mất 46 năm đấy! "


Sau khi mô tả cuộc đối thoại ấy, thánh Gioan viết: "Nhưng đền thờ mà Chúa Giêsu nói đến chính là thể xác Ngài. Vì thế, khi Ngài từ trong cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lại rằng Ngài đã nói như vậy, nên họ tin vào Thánh Kinh và những gì Đức Giêsu đã nói: nói khác, ngay cả các môn đệ cũng không hiểu hoàn toàn những điều Ngài muốn nói vào lúc đó. Chỉ sau khi Ngài sống lại trong vinh quang thì những điều ấy mới sáng tỏ.


Chúng ta hãy lấy một ví dụ khác, chẳng hạn như những gì xảy ra vào ngày lễ lá, khi Đức Giêsu cưỡi lừa đi vào thành Giêrusalem. Sau khi mô tả quang cảnh ấy, Thánh Gioan viết: "Lúc đó, các môn đệ không hiểu những điều ấy, nhưng khi Đức Giêsu sống lại trong vinh quang, họ mới nhớ lại rằng Thánh Kinh đã nói những điều đó về Ngài" (Ga 12: 16)


Cái gì sau đó đã xẩy ra cho các môn đệ khiến họ có thể hiểu được những điều ấy? Chính là những điều mà Đức Giêsu nói thì đã xẩy ra. Trước khi chết, Đức Giêsu nói với các môn đệ Ngài: "Đấng phù Trợ, tức Thánh linh", mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Ngài sẽ dạy cho các con mọi điều, và sẽ làm các con nhớ lại tất cả những gì Thầy đã nói với các con" (Ga 14: 26). Nói cách khác, những gì khiến cho bốn Phúc Âm có giá trị hơn cuốn phim, chính là những sách Tin Mừng ấy được viết trong ánh sáng của Chúa Thánh Linh khi Ngài đến vào ngày lễ Ngũ Tuần.


Phúc Âm là kết quả của việc làm do Chúa Thánh Linh, nên không phải chỉ ghi lại lời nói và công việc của Đức Giêsu, mà còn ghi cả ý nghĩa sâu thẳm ở đàng sau những lời nói và hành động ấy. Tôi xin minh hoạ điểm này.


Chúng ta đã từng coi mục quảng cáo thương mại trên TV dành cho máy ảnh Polaroid có một cô gái chụp một tấm ảnh vào bữa tiệc mừng sinh nhật. Sau khi cô ta chụp xong, có một mảnh giấy trắng cuộn ra khỏi phía trước ống kính máy Polaroid. Không có gì trên tấm giấy đó cả. Nó vẫn trắng. Nhưng rồi đột nhiên trước mắt chúng ta, hình ảnh và mầu sắc bắt đầu xuất hiện trên tấm giấy trắng ấy. Mới đầu chúng còn mờ nhạt, nhưng lập tức chúng trở thành rõ sáng và sắc nét.


Những biến cố trong cuộc đời Đức Giêsu cũng giống như vậy. Mới đầu chúng dường như giống một tờ giấy trắng, không có gì là đặc biệt cả. Nhưng sau biến cố lễ Ngũ tuần. Thánh linh soi sáng tâm trí các môn đệ Đức Giêsu về những biến cố trong cuộc đời của Ngài. Đột nhiên những ý nghĩa sâu xa của những biến cố này bắt đâu xuất hiện rồi rõ nét giống như hình ảnh trên tờ giấy Polaroid vậy. Sự khác biệt giữa sự hiểu biết của các tông đồ về những giáo huấn của Đức Giêsu trước và sau lễ Ngũ Tuần cũng rõ rệt giống như sự khác biệt giữa giấy Polaroid trước và sau khi nó được trưng ra ánh sáng.


Vì thế bốn sách Tin Mừng được viết ra có giá trị hơn một cuốn phim như đã nói rất nhiều. Chúng không phải chỉ ghi lại ngôn từ và hành động của Đức Giêsu, mà còn giải thích cho chúng ta biết ý nghĩa của chúng. Bốn cuốn Tin Mừng là món quà của Thiên Chúa ban tặng chúng ta. Thánh Giêrônimô gọi những sách Tin Mừng là những "bức thư tình" của Thiên Chúa Cha gửi cho con cái Ngài ở dưới đất.


Mùa chay là một thời gian rất thuận lợi để chúng ta tái khám phá ra quyền năng và vẻ đẹp của bốn Phúc Âm đó. Đó là thời gian thuận lợi để chúng ta nghe Tin Mừng trong thánh lễ một cách chăm chú hơn và với nhiều yêu thương hơn. Quan trọng hơn, mùa chay là thời gian thuận lợi để tập trung cái nhìn của chúng ta vào Đức Giêsu, nhân vật chính của bốn Phúc Âm. Đó là thời gian để chúng ta đặt hết niềm tin vào Ngài. Nếu chúng ta làm như thế, Ngài sẽ tỏ mình ra cho chúng ta vào Chúa Nhật Phục Sinh một cách hoàn toàn mới mẻ, giống như Ngài đã tỏ mình ra cho các môn đệ Ngài vậy.


Để kết thúc chúng ta hãy cầu nguyện. Hãy cám ơn Thiên Chúa vì Ngài đã ban cho chúng ta một món quà là Bốn cuốn Tin Mừng và hãy xin Ngài giúp chúng ta tin tưởng sâu xa hơn vào những cuốn sách đó.


Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, chúng con cám ơn Cha đã ban cho chúng con món quà là bốn cuốn Phúc Âm. Xin hãy giúp chúng con yêu mến và quí trọng những cuốn sách đó. Xin hãy giúp chúng con biết cách tự đặt mình vào địa vị các tông đồ để chúng con có thể nhìn và nghe những gì các ngài đã nhìn và đã nghe. Nhất là xin giúp chúng con sống theo bốn cuốn Tin Mừng đó. Xin hãy chỉ cho chúng con biết cách áp dụng Tin Mừng vào cuộc sống, để khi cuộc sống này hết hạn, chúng con sẽ được tham dự vào sự sống của Cha đến muôn muôn đời.

 

Trở lại đầu trang