Các bạn thân mến,

Thắng có tinh thần phục vụ nhiệt tâm với tập thể luôn tìm cách để tạo sự hăng hái sinh động trong xã, Kim Hoa muốn "ủng hộ" tinh thần đó nên cũng có làm cố gắng ráng thu xếp dành một ít thì giờ khi "có thể" để tham gia góp phần gọi là chia sẻ với bà con trong xã, kể chuyện "nam tào bắc đẩu" nhất là về nhạc ngoại quốc, dù biết rằng đa số các bạn không mấy ưa chuộng vẫn thích nghe nhạc Việt hơn, nhưng vì K.Hoa muốn có sự đổi mới để tránh điều nhàm chán, hơn nữa khi tìm tài liệu ở những websites ngoại quốc mình luôn có sự thoải mái, hài lòng bởi nó quá súc tích đầy đủ gần như không thiếu gì hết từ bài văn cho đến hình ảnh.

Lâu nay Kim Hoa cũng muốn viết một "cái gì" đó để đề cao nhạc VN mình nhưng nghĩ rằng nó sẽ trở nên dư thừa, vì từ trong lẫn ngoài nước đã có những tài liệu báo chí đề cập đến nhằm ca tụng nhạc vàng, lại thêm trong xã mình cũng không mấy thiếu người "sành điệu", chẳng những biết rành nhạc Việt mà còn hát hay nữa!!! Nay Thắng lên tiếng yêu cầu thì K.Hoa cũng thấy hứng khởi muốn góp ý tưởng đôi lời, làm tóm lược sơ qua về những nhạc sĩ, những bản nhạc mà mình hằng yêu chuộng và dĩ nhiên là có những đoạn văn được "sao" lại thể theo lời luận bàn của những nhà báo, nếu có gì cần bổ túc thêm thì các bạn hãy phụ đề tiếp nha!

Danh từ nhạc tiền chiến VN được xác định vào khoảng từ năm 1938 đến năm 1945, là loại nhạc của thời hòa bình an lạc, ở vào cái thời mà lòng người không phải khắc khoải âu lo vì thế sự, do đó nó mang cái âm hưởng nhẹ nhàng nên thơ và lãng mạn. Cuộc đời được thi vị hóa bằng hoa bướm, bằng những lá vàng rơi lác đác với những nỗi buồn man mác tưởng nhớ xa xăm đầy vương vấn, có cả một thế giới đầy mộng mơ, ướt át được lồng vào trong đó.


Ngày nay cho dù tuổi trẻ có bị hao mòn bởi chiến tranh tao loạn, bởi nhịp điệu quay cuồng của cuộc sống, có bị tàn phai theo năm tháng nhưng khi được nghe lại nhạc tiền chiến người ta cũng có thể thả hồn trong chốc lát để hòa mình theo những lời ca điệu nhạc đầy êm dịu trữ tình này.

Ừ, thì cứ cho là đúng goût của mình đi, tuy nhiên K.Hoa vẫn thích nhạc hậu chiến hơn, vì nó là phản ảnh xác thực của hiện tại, không mơ mộng hão huyền, qua lời nhạc điệu ca, như có một điều gì u uất sầu thảm, ray rức, thấm sâu vào từng mạch máu thớ thịt mình, một cái "thú đau thương" làm chết lịm người đi được một khi mình đã thả hồn theo đó; với những lời nhắn gọi mang đủ đầy ý nghĩa, thật đậm đà sâu sắc, và những cảm nhận này người ta có thể tìm được một cách cụ thể qua nhạc của Trịnh Công Sơn chẳng hạn.

Đất nước mình nhỏ bé nghèo khổ với bao nhiêu năm dai dẳng của chiến tranh dưới ách đô hộ của ngoại xâm, do đó âm nhạc bị ảnh hưởng rất nhiều, nhạc vàng của chúng ta là cả một chuỗi sầu muôn thuở réo rắt vang vọng từ vạn kiếp xa xưa nào đó, với cung điệu buồn lê thê đầy ai oán khôn nguôi, quằn quại trong đớn đau để tỏ bày những tiếc nuối xót xa đầy tang tóc vì chinh chiến chia lìa. Và bên cạnh đó chúng ta cũng có niềm tự hào riêng là có được một "kho tàng" âm nhạc dồi dào phong phú qua sự đóng góp của các nhạc sĩ được thiên phú đầy tài ba lỗi lạc.

* DƯƠNG THIỆU TƯỚC (1915-1995):

Là một văn nhân nho nhã, lãng mạn, phóng khoáng, xuất thân trong một gia đình nho học truyền thống, ông có sáng kiến là soạn các nhạc phẩm thuộc loại "bài Tây" nhưng theo "điệu ta", là người đi tiên phong mở đầu cho việc sáng tác của nền tân nhạc cải cách VN. Vợ ông là ca sĩ Minh Trang, người Huế do đó ông có sáng tác vài bài về thủ đô thần kinh như Đêm Tàn Bến Ngự, Tiếng Xưa, và rồi Ngọc Lan, Bóng Chiều Xưa, Chiều (thơ Hồ Dzếnh qua điệu Tango)......

 

 

* ĐẶNG THẾ PHONG (1918-1942):

Cuộc đời của ông rất long đong, dở dang việc học, sống lang bạt kỳ hồ với nhiều nghề khác nhau: dạy nhạc, vẽ tranh, ca hát. Một nhạc sĩ tài hoa nhưng mệnh yểu đã qua đời vì bệnh lao phổi khi mới vừa hai mươi bốn tuổi bởi cuộc sống quá ư là nghèo khổ, lao lực và bôn ba. Ông góp mặt trên cuộc đời này quá ngắn ngủi nhưng đời sống tinh thần rất là phong phú và không kém phần thi vị, người ta ví ông như một Mozart của VN (người nghệ sĩ tài ba, cuộc sống cũng bần hàn và vắn số, ông qua đời vào lúc 35t).

Vào thời kỳ của DTP, khi các tình ca khác gợi chuyện mây gió hoa lá thì dòng nhạc của ông đã đi vào thân phận, tâm hồn con người một cách sâu sắc giá trị bằng bút pháp lãng mạn, u sầu, bởi lẽ nó được xuất phát từ con tim chân thành dể đi sâu vào lòng người và sống mãi với thời gian. Tác giả xuất hiện như một chớp sao băng với một sự nghiệp ít ỏi nhưng qua ông người ta chứng minh được một văn nghệ tính phẩm chứ không tính lượng "quý hồ tinh bất quý hồ đa" vì ông đã để lại cho đời đúng ba tuyệt phẩm thật "bất hủ" đó là: Ðêm Thu, Con Thuyền Không Bến, và Giọt Mưa Thu.

* PHẠM DUY (sinh năm 1921):

"Bố" tên người ta thường gọi ông, tự học lấy nhạc, có đi huấn nghệ tại Pháp trong hai năm (1954-1955) đã tạo cho mình một sự nghiệp âm nhạc thật phong phú đa dạng qua mọi thể loại về: dân ca, tục ca, tâm ca, thánh ca, trường ca, và tình ca.

Lời nhạc của Phạm Duy đượm vẻ tự nhiên bình dị của một nghệ thuật cổ truyền, mang tinh thần tư tưởng trật tự của Khổng, một tình yêu thiên nhiên của Lão và tính siêu thoát của Phật; nó còn được hỗ trợ qua những bài thơ tuyệt tác của các thi sĩ nổi danh như Nguyễn Bính, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Cung Trầm Tưởng....... Những sáng tác của ông là sự phản hồi trung thực của những hiện tượng xã hội, những biến cố lịch sử đầy gian nan tranh chấp, của những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; và theo từng giai đoạn biến chuyển của cuộc đời ông đã viết lên những tình khúc để biểu lộ lòng yêu nước, tình yêu quê hương, yêu nhân sinh và tình yêu đôi lứa:

 

- Vào thời tiền chiến: nhạc phẩm đầu tay mang tựa đề Cô Gái Mơ (1942)....

- Trong thời kỳ đi kháng chiến: Xuất Quân (1945),Cây Đàn Bỏ Quên(1945), Chiến Sĩ Vô Danh (1946), Tiếng Đàn Tôi (1947), Bên Cầu Bên Giới (1947), Cành Hoa trắng (1950)......

- Sau khi di cư vào Nam: Tình Hoài Hương (1952), Thuyền Viễn Xứ (1952), Tình Ca (1953), Hẹn Hò (1954), Tìm Nhau (1956), Kiếp Nào Có Yêu Nhau (1958), Tạ Ơn Đời (1959), Mưa Rơi (1960), Còn Gì Nữa Đâu (1960), Nước Mắt Rơi (1961), Nghìn Trùng Xa Cách (1969), Nha Trang Ngày Về (1969), Mùa Thu Chết (1970)........

Nói về số lượng tác phẩm của Phạm Duy thì vô số kể mình không thể liệt kê hết ra đây, người ta ví ông như một "ca nhân của ái tình" và bảo rằng ngày nào những cặp tình nhân còn hát cho nhau nghe những lời tỏ tình thì ngày đó nhạc của ông hãy còn sống mãi.......

Vào ngày 17/05/2005 tới đây Phạm Duy sẽ rời bỏ nước Mỹ quay về VN không ngoài mục đích là được trở về đất mẹ nhằm tìm lại cội nguồn và cũng để được nằm an nghỉ ngàn thu trên mãnh đất quê hương mà ông hằng yêu dấu.

* ĐOÀN CHUẨN (1924-2001) & TỪ LINH (1928-1987 - người bạn thân đã từng đóng góp với ông qua nhiều tác phẩm)

Đoàn Chuẩn là một con người phóng khoáng, lãng mạn đa tình, người ta gọi ông là "người tình của mùa thu" vì dòng nhạc của ông được gợi hứng từ cảnh vật của mùa thu, một mùa thu theo ý nghĩa của "biểu cảm" luôn chất chứa những tiềm ẩn bao hàm đầy cảm xúc, bằng một trái tim nhạy cảm người ta tưởng chừng như nghe được cả tiếng thở nhẹ, sờ được cái lướt thướt, thấy được cả không gian lắng đọng của trời đất vào thu khi thưởng thức qua những bài nhạc của tác giả.

Tác phẩm đầu tay của ông mang tên "Tình Nghệ Sĩ" (1947), và tiếp đến là những tình khúc: Ánh Trăng Mùa Thu, Gửi Người Em Gái, Thu Quyến Rũ, Chuyển Bến, Cánh Hoa Duyên Kiếp, Tà Áo Xanh (Dang Dở), Lá Đổ Muôn Chiều, Lá Thư, Chiếc Lá Cuối Cùng, Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay.....

Cùng với cây đàn ông đã nâng phím tơ để dệt cho đời những khúc nhạc tình bày tỏ nỗi lòng, nói lên những cánh đời mong manh, những mảnh tình đầy vụn vỡ; bằng những lời lẽ thật tự nhiên, không cầu kỳ bóng bẩy, không ẩn chứa những triết lý cao xa mơ hồ, qua những ý tưởng thật giản đơn, gần gũi như hiểu thấu được những quy luật bất biến muôn đời của cuộc sống: "Có hoa nào không tàn, có tình nào không phai..." Đoàn Chuẩn đã đi về cõi thiên thu, nhưng mùa thu vẫn còn đó và những tình khúc của ông vẫn luôn được ấp ủ với dáng thu, vẫn mãi là tiếng tơ lòng còn quyện sâu trong tâm tư của người trần thế.

* PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG (1929-1991):

Ông có một biệt hiệu là Hoài Bắc, là linh hồn của ban hợp ca Thăng Long gồm các thành viên trong gia đình: Thái Hằng, Thái Thanh (hai người em ruột), Khánh Ngọc (vợ), Hoài Trung (anh một cha khác mẹ) và Phạm Duy (em rể), ban nhạc này đã từng "làm mưa làm gió" trên sân khấu văn nghệ miền Nam vào thời năm 1951.

Nhạc tình của ông nói lên sự nuối tiếc hoài niệm về những mối tình, mang sắc nét bi thương của sự tan vỡ để trở thành những tình khúc bất tử như: Xóm Đêm, Đêm Cuối Cùng, Thuở Ban Đầu, Mộng Dưới Hoa (thơ Đinh Hùng), Màu Kỷ Niệm (thơ Nguyên Sa), Nửa Hồn Thương Đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Người Đi Qua Đời Tôi (thơ Trần Dạ Từ), Đôi Mắt Người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Đêm Màu Hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền)......
 

* VĂN PHỤNG (1931-1999):

Người lạc quan yêu đời, bay bướm đào hoa nhưng chưa hề bị đau khổ vì tình!!! Đã từng theo học tại những trường Pháp như Louis Pasteur, Albert Sarrault. Nhạc ông viết không theo một phân loại nào mà do tùy hứng bất chợt, vợ ông (ca sĩ Châu Hà) đã từng nói: "Ông ấy sáng tác lúc nào cũng được, cứ có hứng là làm, ngay như ngồi chợ ở Cầu Ông Lãnh cũng làm nhạc được.":-)

Có một điều buồn cười là bản nhạc đầu tay của ông mang tựa là "Ô Mê Ly" (1948) với tiết tấu sôi động, phấn chấn yêu đời và bài cuối cùng lại là "Chán Nản" (1972) ?!?


Ông không sáng tác nhiều nhưng cũng để lại cho đời những bản nhạc hay truyền cảm nhẹ nhàng như: Các Anh Đi, Tình, Suối Tóc, Tiếng Dương Cầm, Em Mới Biết Yêu Đã Biết Sầu, Mưa, Tiếng Hát Với Cung Đàn, Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn.......

 

* LAM PHƯƠNG (sinh năm 1937)

Ông xuất phát từ gia đình đông con nghèo khổ, do đó cái tư tưởng bi quan đã hằn sâu trong đầu óc tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm qua các tác phẩm, nhạc của ông là một thể loại văn chương truyền khẩu mang sắc thái phổ thông tiêu biểu cho dân tộc miền Nam.

Bằng những lời lẽ mộc mạc gần gũi với quần chúng, một âm điệu giản dị, trong sáng, nhạc của ông chất chứa những nét đẹp của quê hương, niềm cay đắng của một kiếp nghèo, tâm sự của những người trai trong thời chinh chiến, tâm tình của những kẻ yêu nhau trong thời loạn ly. Nhạc khúc của ông được thay đổi theo từng giai đoạn biến đổi của cuộc đời, từ thuở son trẻ trong gia cảnh bần hàn, thời tham gia quân đội, hạnh phúc của hôn nhân rồi sự gãy đổ, và sau cùng là niềm vui bù đắp bên cạnh một mối tình mới.... Sang hải ngoại ông định cư ở Mỹ nhưng cũng đã từng sinh sống tại Pháp trong vài năm và cái thành phố cổ kính, trữ tình này đã ảnh hưởng ít nhiều đến tư tưởng dòng nhạc của ông.

Nói về số lượng nhạc phẩm sáng tác có khoảng trên 200 tình khúc, một số bài tượng trưng được liệt kê như sau: Khúc Ca Ngày Mùa, Tình Anh Lính Chiến, Chiều Hành Quân, Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến (1954), Bọt Biển, Yêu Thầm, Mùa Thu Yêu Đương, Tình Hồng Paris, Cho Em Quên Tuổi Ngọc, Thành Phố Buồn, Duyên Kiếp, Thu Sầu, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Tình Vẫn Chưa Yên, Em Đi Rồi, Tình Đau, Một Đời Tan Vỡ, Chờ Em, Cỏ Úa, Bài Tango Cho Em, Cỏ Úa, Một Mình, Hạnh Phúc Mang Theo....

* TRỊNH CÔNG SƠN (1939-2001):

Xuất phát từ gia đình đông con, ông đã từng theo học ở trường Chasseloup-Laubat (Sài Gòn), là người thông thái, bao dung, khiêm nhượng, có phong cách của một nhà hiền triết khổ hạnh, cao siêu nhưng hòa đồng gần gũi. Với ông tình yêu thì luôn đầy ấp trái tim, hiện hửu nhưng không bao giờ nắm giữ được, hiến dâng nhưng không cần đền đáp.

Nhạc của ông có một giai điệu trầm tĩnh như hơi thở, được viết lên bằng những thôi thúc của tình cảm thiên nhiên, từ những giấc mộng ngổn ngang, những viễn tượng phù phiếm non dại của tuổi trẻ, qua lời tình tự ấy người ta như tìm thấy lại được cái bản ngã của chính mình. Người ta ví ông như một "cây cổ thụ" của nền âm nhạc, một "phù thủy của ngôn ngữ" đầy triết lý nhân sinh đã đem lại cho người Việt một niềm tự hào, tình yêu, hy vọng, một nhạc sĩ ngoại lệ, một "Vietnamese Bob Dylan" (nhạc sĩ Mỹ chuyên về loại folk-rock, người tài ba, có "đầu óc" đã từng chiếm giải Nobel về văn chương).

Trịnh Công Sơn đã để lại cho đời một gia tài văn hóa đồ sộ với khoảng 500 bài hát nói về thân phận con người, tình yêu và hòa bình. Tác phẩm đầu tay của ông mang tựa là Ướt mi (1959), và tiếp đó là vô số kể những tuyệt tác bất hủ mà mình chỉ có thể liệt kê một cách tượng trưng: Xin Mặt Trời Ngủ Yên, Tiếng Hát Dạ Lan, Vết Lăn Trầm, Lời Buồn Thánh, Như Cánh Vạc Bay, Biển Nhớ, Thương Một Người, Người Đi Hành Hương, Diễm Xưa, Ca Khúc Da Vàng, Cúi Xuống Thật Gần, Lại Gần, Rồi Như Đá Ngây Ngô, Xin Cho Tôi, Cho Một Người Nằm Xuống, Phôi Phai.......

Tác giả đã từng nói "sống trong đời sống cần phải có tấm lòng", "cuộc đời đã có bao lâu mà hững hờ, sống chứ không phải là tồn tại", bởi lẽ cuộc đời này chỉ là một cõi tạm, con người đã sinh ra từ cát bụi thì sớm muộn gì cũng trở về với cát bụi mà thôi!

* LÊ UYÊN PHƯƠNG (1941- 1999):

Những tác phẩm được mến chuộng của ông có một xúc tác mạnh mẽ, đã từng làm rung động hằng triệu con tim của giới trẻ vào thời năm 1970 trên mọi khung trời học đường. Dòng nhạc của ông được thể hiện qua hình thức du ca, mang tính chất lãng tử, một tình yêu đầy khắc khoải, rã rời của tuổi trẻ trước diễn biến của đất nước trong thời chiến tranh tao loạn. Đâu đâu cũng bao hàm triết lý của cuộc đời, của tình yêu loài người, của những xao động trong cuộc sống, và với ông tất cả chỉ là "hư vô" dù là những kỷ niệm đã nằm trong ký ức.

Sáng tác đầu tiên của ông mang tựa đề "Buồn Đến Bao Giờ" (1960), và tiếp nối là những tình khúc như: Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa, Còn Nắng Trên Đồi, Uống Nước Bên Bờ Suối, Hãy Ngồi Xuống Đây, Vũng Lầy Của Chúng Ta, Một Ngày Vui Mùa Đông, Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Tình Khúc Cho Em, Đêm Chợ Phiên Mùa Đông, Lời Gọi Chân Mây, Khi Loài Thú Xa Nhau, Yêu Nhau Trong Phận Người.......

* VŨ THÀNH AN (sinh năm 1943):

Nhạc tình của ông là một kết hợp của âm điệu nhẹ nhàng, lả lướt với lời ca như quyện vào tâm hồn người nghe, thật lãng mạn nồng nàn để diễn tả những nỗi rạn vỡ, ray rứt đau thương, trách cứ, giận hờn, bởi lẽ tình yêu không xuôi chảy cùng giòng đời, chuyện tình không đoạn kết và để rồi phải "gắng yêu đời mà sống" khi mà sự chia lìa đã làm đến độ võ vàng trong cơn đau. Và điều đó phản ảnh rất rõ trong ca từ và âm điệu của những bài Không Tên, đặc biệt là bài Cuối Cùng...


Một chuỗi sáng tác của ông gồm có các bài "Không Tên" được quần chúng đón nhận nồng nhiệt và nghiễm nhiên trở thành những bản nhạc tình "bất tử", là một dấu ấn lãng mạn của một thời nhạc vàng, nào những: Tình Khúc Thứ Nhất (thơ Nguyễn đình Toàn - 1965), Bài Không Tên Số 2 (1968), Số 3, Số 4, Số 5, Số 7, Số 8,.... Số 50.... và Bài Không Tên Cuối Cùng, Em Đến Thăm Anh Đêm Ba Mươi, Đời Đá Vàng....

Và sau mười năm bị giam hãm tù đày (1975-1985) những dòng nhạc của ông đã đổi thay, mang một dáng dấp mới qua cái nhìn đầy triết lý chấp nhận, nhẹ nhàng không trách cứ, một thể loại "nhân bản ca" được thể hiện qua nhạc Thánh - kể từ năm 1981 - để nói về một thứ tình yêu rộng lớn, bất diệt hơn cả tình yêu của đôi lứa, và cũng sau 40 năm trải qua nhiều biến động, ông đã phát biểu như sau "Ngày xưa tôi chỉ biết yêu và đau khổ cho một người, nay tôi học để yêu và hy sinh cho Thiên Chúa và cho anh em". Lòng tín ngưỡng đem đến cho ông một niềm tin vững mạnh, một ý nghĩa của cuộc sống, ánh sáng của Thượng Đế rọi soi để ông tìm thấy một con đường đi sáng lạng cho những ngày còn lại của cuộc đời.

* LÊ HỰU HÀ (1946-2003):

Khởi đầu ông lập một ban nhạc trẻ sinh viên có tính cách văn nghệ mang tên Hải Âu với sự cộng tác của ca sĩ Thanh Lan, sau đó vào năm 1970 ông thành lập một ban nhạc "chuyên nghiệp" mang tên là Phượng Hoàng đã gặt hái thành công cùng với sự hợp tác của các ca sĩ: Trường Kỳ, Nguyễn Trung Cang, Lê Huy và Elvis Phương.

Với điệu nhạc trẻ trung, phóng khoáng tự do, một loại Pop-rock Việt hóa pha lẫn giữa triết lý sống của Jean Paul Sartre và cái yếm thế quân tử của Khổng Tử. Sáng tác của ông ứng dụng những giai điệu tiết tấu hiện đại của nhạc trẻ phương Tây nhưng vẫn mang hơi thở âm hưởng của dân ca Việt Nam.


Ông để lại một sự nghiệp nghệ thuật khoảng trên 50 ca khúc, tiêu biểu nhất qua các tác phẩm: Vào Hạ, Phiên Khúc Mùa Đông, Tôi Muốn, Cười Lên Đi Em Ơi, Yêu Người Yêu Đời, Hãy Ngước Mắt Nhìn Đời, Yêu Em, Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào, Lời Người Điên.... và Tình Đã Quên Mình (bài cuối cùng).
 

* ĐỨC HUY (sinh năm 1947):

Theo anh, âm nhạc là một sự giải bày nỗi niềm để nói lên tâm trạng của chính mình, bằng một giai điệu trẻ trung giản dị, với lời ca mộc mạc thành thật, không cầu kỳ không gượng ép, nhạc của anh có một xúc tác đến quần chúng từ hơn ba thập niên trở lại đây. Năm 1963 anh tập tểnh bước vào làng âm nhạc, làm đệm công đàn guitar cho ban "Les Vampires" hát dựa theo nhạc của Beatles, Rolling Stone và vào năm 1970 anh cùng với Tuấn Ngọc, Tùng Giang (nickname "Mouse") và Billy Shane (khuôn mặt tròn, cận thị, tóc dợn quăn, anh này đã qua đời) lập ra ban nhạc trẻ "The Strawberry Four" trình diễn ở đài truyền hình và các clubs Mỹ vào thời đó. Anh cũng đã từng hát làm mưu sinh trên những du thuyền ở Hawaii, Tahiti, Bahamas, Caribbean.

Những tình khúc của anh tạo được sự hội nhập hoà đồng dễ đi vào lòng người, bất luận ở tuổi tác nào người ta vẫn cảm thấy trái tim mình như còn đọng lại một chút "tia sáng mặt trời" của tình yêu; bằng những âm thanh ngọt ngào lãng mạn, dể thương, tình ca của anh cũng chất chứa nổi buồn, niềm đau thương, nhưng thường mở ra một "lối thoát", như gửi gấm một thông điệp hy vọng, một niềm tin trong cuộc sống.


Sáng tác đầu tay của anh mang tựa đề "Cơn Mưa Phùn" (1969), tiếp đến là những ca khúc trữ tình: Nếu Xa Nhau, Bay Đi Cánh Chim Biển, Mùa Thu Cho Em, Đường Xa Ướt Mưa, Em Đi, Liên Khúc Tình Buồn, Và Tôi Cũng Yêu Em, Để Quên Con Tim, Người Tình Trăm Năm, Tiếng Mưa Đêm, Màu Mắt Nhung, Trái Tim Ngục Tù, Như Đã Dấu Yêu, Khóc Một Dòng Sông......

* NGÔ THỤY MIÊN (sinh năm 1948):

Là con rể của tài tử Ðoàn Châu Mậu, có một cuộc sống khép kín ít khi giao thiệp bên ngoài, được lớn lên trong sự gần gũi với sách vở thơ văn, do đó tâm hồn ông sớm có cơ hội phát triển về lãnh vực nghệ thuật, âm nhạc của ông không những được biểu đạt sâu sắc qua cái tư duy cảm xúc của chính mình mà lại còn chất chứa đầy những ngôn từ màu sắc của hồn thơ nữa.


Tác giả đã từng nói, ông chỉ viết nhạc cho chính mình và đối tượng của mình mà thôi, nhưng dòng nhạc của ông còn nói lên được những tâm sự chung của những ai đã từng có rung động trong tình yêu; cho dù môi trường sống có khác biệt, dù cho thời gian có trôi qua đi nhưng những tình khúc của ông vẫn là một hiện diện, thích hợp với tâm trạng của những kẻ yêu nhau.

Tác phẩm đầu đời của NTM mang tựa đề "Chiều Nay Không Có Em" (1965), đặc biệt thơ Nguyên Sa luôn là nguồn gợi hứng đã ảnh hưởng bàng bạc qua dòng nhạc của ông, là một kết hợp sâu xa về tình cảm được thể hiện trình bày qua các tình khúc: Áo Lụa Hà Đông (1970), Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi 13, và những bản trữ tình khác: Tình Khúc Tháng Sáu, Từ Giọng Hát Em (1970), Mắt Biếc, Giáng Ngọc (1970), Niệm Khúc Cuối (1971), Bản Tình Cuối (1971), Tình Khúc Buồn (1972)......

Nơi xứ lạ quê người ông vẫn tiếp tục sự nghiệp sáng tác của mình, bài nhạc đầu tiên mang tên Bản Tình Ca Cho Em, và tiếp đến là Tình Cuối Chân Mây (1992), Giọt nước Mắt Ngà, Dấu Tình Sầu, Nắng Paris Nắng Sài Gòn, Riêng Một Góc Trời, Dốc Mơ, Mưa Trên Cuộc Tình Tôi, Nỗi Đau Muộn Màng (2001), Một Cõi Tình Phai (2002).......

Theo tác giả, nhạc cũng là đời sống do đó nó cũng thay đổi biến chuyển theo dòng đời, âm hưởng nhạc Ngô Thụy Miên ngày một lan rộng và vững mạnh hơn bao giờ hết, từ hải ngoại muôn trùng nhạc ông đang lên đường tìm về quê hương để an ủi những tâm hồn đang yêu, muốn yêu và sống chết cho tình yêu.

* TỪ CÔNG PHỤNG:

Theo ông, trong cuộc đời không có gì đẹp bằng tình yêu, nó là nguồn gốc cho dòng đời tiếp nối, do đó nhạc của ông ảnh hưởng theo từng giai đoạn tình cảm riêng tư trong cuộc đời, qua những lần tinh thần bị giao động ít nhiều bởi những cuộc tình dở dang, sau cùng ông đã tìm ra được một chân lý sống, một hạnh phúc đơn thuần bình dị.


Luôn bằng lời ca trau chuốt của một con người vốn dĩ "lịch duyệt" ông đã đưa thính giả đến những cảnh bình yên an lành trong tâm tưởng qua những tình khúc xuất sắc được ghi nhận như: Bây Giờ Tháng Mấy (tác phẩm đầu đời), Tuổi Xa Người, Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên, Lời Cuối, Trên Ngọn Tình Sầu (1968 - thơ Du Tử Lê), Giọt Lệ Cho Ngàn Sau, Mắt Lệ Cho Người, Tình Tự Mùa Xuân, Như Chiếc Que Diêm, Kiếp Dã Tràng.....

Theo tâm sự của tác giả, những người tình đã từng đi qua đời ông, dù là một khoảnh khắc chóng phai, dù cho những kỷ niệm đã thật sự phôi pha nhạt nhòa theo năm tháng, nhưng nó luôn lưu lại được nuôi dưỡng trong ông, do đó mỗi bản tình ca của ông là một dâng hiến thật trọn vẹn, đủ đầy cho một tình yêu "bất tử" của ngàn đời.

Qua đây Kim Hoa chỉ làm liệt kê một cách tượng trưng về những nhạc sĩ thiên tài, trên thực tế còn có rất nhiều nghệ sĩ khác, nào những:

Nhạc vàng VN, một vườn hoa nghệ thuật luôn rực rỡ muôn màu được điểm tô bằng những TÌNH khúc tuyệt tác để nhằm ca tụng quê hương, triết lý cho thân phận loài người, nhắn nhủ thầm kín về những nỗi niềm riêng tuyệt vọng, cưu mang trọn vẹn những mối tình u ẩn... Tình yêu là một phần thể tạo nên đời sống, do đó tình yêu luôn là đề tài muôn thuở bất diệt của nghệ thuật và sáng tạo; là chất xúc tác, điểm chính yếu bắt nguồn cho cảm hứng từ cổ chí kim, từ Âu sang Á.


Và nền âm nhạc Việt nam được thành hình qua đó, cả một kho tàng quý báu mang nét đặc thù riêng nổi bật về giá trị lịch sử, tư tưởng, nhân bản và văn hoá; nó được dựng xây bởi những nghệ sĩ tài ba đầy thiên phú, như một kiếp tằm phải nhã tơ, bằng tâm hồn sáng tạo tìm qua nguồn cảm hứng họ đã moi óc nặng tim để dâng hiến cho đời những bản Tình ca bất hủ, tạo nên một "di sản" cho dân tộc đầy "tình người". Những người nghệ sĩ hóa cố đã ra đi, thể xác họ trở về với hư không nhưng tinh anh vẫn còn lại muôn đời trong lòng đất Việt, họ sẽ là những vì sao tinh tú luôn sáng rực trên bầu trời âm nhạc VN và sẽ còn lưu lại mãi mãi cho ngàn sau.....