Mặc dù là kẻ có đạo gốc, nhưng tôi có lúc đã rất yếu lòng tin về "cuộc sống đời sau" - có nghĩa là chết không phải là hết, mà linh hồn người quá cố sẽ được chuyển qua một thế giới khác, nơi đó sẽ cuộc phán xét để phân loại người lành kẻ dữ, rồi mới thưởng phạt bằng thiên đàng hay địa ngục! Nhưng cái không vững tin thuộc về tín điều ấy của tôi đã bị đánh gục hoàn toàn khi tôi lần đầu tiên trong đời được chứng kiến một buổi giành giật linh hồn giữa người và ác quỷ, và người có khả năng thần sầu và hiếm có này lại là một người đàn ông già cả trông rất đỗi tầm thường như bao người nghèo khổ khác.

 

"Ông Thánh Sủng" là tên mà những gia đình chịu ơn đã đặt cho ông, khi ông có dịp đến giúp bất cứ người nào sắp đến giờ lâm tử. Sở dĩ người ta gọi ông là "Thánh Sủng" vì ông sống một cuộc đời giản dị và khắc khổ dù gia đình ông có rất nhiều con cái đang định cư ở nước ngoàị Thánh Sủng cũng còn có nghĩa là một người toàn thiện được ơn ưu đãi từ Trời để làm những công việc cứu nhân độ thế. Khi đến việc, người ta thấy ông còng mình trên chiếc xe đạp cọc cạch nhìn mà ái ngại vì ông đã quá tuổi bảy mươi, nhưng thực ra thể chất của ông vẫn còn sung mãn lắm. Đối với ông giờ mà tử thần đến đoạt người bệnh còn quan trọng hơn cả mạng sống của chính ông, vì vậy trong đầu ông lúc nào cũng có điều tâm niệm: "không bao giờ được đến trễ".

 

Ông Thánh Sủng trước đây là một hạ sĩ quan trong QLVNCH, trong những lần hành quân ông được cấp chỉ huy cắt cử làm y tá băng bó cho các thương binh ngay tại mặt trận - vì trước khi đi khóa hạ sĩ quan ở Đồng Đế Nha Trang ông đã tốt nghiệp một khóa học về y tế. Vì phải đối diện thường trực với những người cận kề cái chết, ông thấy ông đã làm được một vài việc cần kíp về thể xác, nhưng chẳng thể giúp gì được cho họ về phần linh hồn. Những lúc an ủi, theo dõi và chứng kiến giờ phút hấp hối của đồng đội, ông đã nhận ra một điều, họ đều chết không nhắm mắt và phần lớn đã ra đi trong sự đau đớn, tuyệt vọng và cô đơn.


Từ những ánh mắt vô vọng và đau khổ ấy, ông linh cảm được một điều vô cùng quan trọng - mà chỉ có ông trong những giây phút cuối cùng ấy mới có thể làm được cho họ - đó là giành giật với ác quỷ để đưa họ lại gần với tầm tay với của thiên thần. Trong các quân binh chủng, đều có các sĩ quan tuyên úy của các tôn giáo, họ có thể làm tâm hồn của các chiến binh bình an khi ra mặt trận, bằng những lời thuyết giảng, và các nghi thức tôn giáo, nhưng họ lại rất hiếm khi cận kề với các thương binh khi gặp nạn và trút hơi thở cuối cùng. Biết vậy, ông tìm hiểu về các phương pháp giúp đỡ người lính trong lúc hấp hối qua kinh sách, và sau đó nhờ một Linh mục ban cho ông cái đặc ân được phép mang bánh Thánh trong người để trao cho những ai muốn rước lễ khi cần kíp. Từ đó ông trở thành chỗ nương tựa tinh thần cho những người đồng đội, và là người ủi an không thể thiếu khi họ bị thương tích.


Nhờ quen việc và có một cảm quan sắc bén, ông chỉ cần cầm tay bệnh nhân lên nghe mạch là ông khắc biết người đó có thể cứu chữa được hay không, và còn bao lâu nữa thì tắt thở. Ông chẩn đoán tài tình đến độ nói được trước giờ mà người bệnh sắp ra đi, và lần đoán sai lớn nhất trong đời ông chỉ là một tiếng! Khi còn ở trong quân ngũ, ông đã tận dụng khả năng trời cho này để cứu đồng đội: những người nguy kịch cần được cứu chữa gấp, còn những người bị nhẹ thì sẽ chữa sau, riêng những người hấp hối và biết không còn cứu chữa được, ông dành những thời giờ còn lại để chuyển những lời trăng trối và giúp họ chết một cách bình an.


Sau năm 1975 ông ở lại Saigòn, trong khi con cái ông lần lượt tìm đường vượt biển. Sau này con cái làm bảo lãnh, vợ chồng ông cũng từ chối không đi, lấy cớ đã già cả, nhưng thực ra ở lại là để có cơ hội giúp những người bệnh hoạn và sắp qua đời. Đức độ và khả năng làm việc của ông cho người bệnh vang dội và được nhiều người biết đến hơn cả mấy ông Cha Xứ trong vùng gộp lại, vì thế khi ông đi đến đâu, những người biết mặt đều ngả mũ cúi đầu chào kính, và một số giáo xứ đã mời ông đến để huấn luyện và thuyết giảng về kinh nghiệm của một người chuyên "giúp kẻ liệt", để ngộ nhỡ mai này ông chết đi thì vẫn còn những người "thừa kế".

 

Khi mẹ tôi nằm liệt giường, ông đã là người đầu tiên đến hỏi thăm và an ủi mẹ tôi về đủ thứ chuyện, rồi hướng dẫn mẹ tôi các công việc "dọn mình" để được ơn chết lành, rồi thường xuyên mang Mình Thánh Chúa đến khi mẹ tôi còn tỉnh. Trong một lần đến thăm trước khi mẹ tôi được chở vào bệnh viện điều trị, ông yêu cầu người nhà nên mời Linh mục đến ban các bí tích sau cùng vì ngày đi của mẹ tôi đã gần kề. Đối với một số người Công giáo, họ chỉ mời Linh mục đến ban phép Thêm Sức khi người bệnh đã mê man, hấp hối. Riêng đối với ông Thánh Sủng thì việc này hoàn toàn khác, gia đình phải mời Linh mục đến ngay khi người bệnh còn tỉnh táo và nhận biết hết đủ mọi việc, chứ để chậm hơn thì không còn gì ích lợi nếu bệnh nhân đã mê man hoặc qua đời. Khi bác sĩ chê, mẹ tôi được người thân đem về nhà dưỡng bệnh (nói đúng hơn là để chờ chết, dù hàng ngày vẫn có bác sĩ đến chích và thăm bệnh).

 

Ông Thánh Sủng đã có mặt gần như hàng ngày và sau khi bắt mạch thêm lần nữa, đã cho biết mẹ tôi chỉ còn sống được hơn một tuần lễ. Thế là mấy đứa em tôi ở Việt Nam liền gọi điện thoại sang Úc để kêu tôi về nhìn mặt mẹ lần cuối. Khi mẹ tôi còn tỉnh, tôi đã được cái diễm phúc ở cận kề, và nay đã đến giờ mẹ tôi hấp hối tôi cũng mong được ở bên như thế, nhưng tiếc thay lúc mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng lại là lúc tôi không có bên cạnh để vuốt mắt mẹ, vì phải chờ đợi chuyến bay.

 

Sau này, khi xem lại cuốn video do thằng cháu đặt quay trong những giờ phút sau cùng của cuộc đời mẹ tôi, tôi đã không cầm được nước mắt khi chứng kiến cảnh ông Thánh Sủng lo toan cho người chết! Ông ngồi cả ngày bên cạnh mẹ tôi để đọc kinh lần hạt, và cứ sau mỗi 50 kinh ông ta lại đưa tay bắt mạch cho mẹ tôi. Ông đặt trên ngực mẹ tôi một cây Thánh Giá (nghịch chiều) để mẹ tôi lúc nào cũng có thể nhìn thấy tượng Chúa chịu nạn. Lần sau cùng, là vào lúc 11 giờ tối, tôi thấy qua video ông cầm chặt tay mẹ tôi rồi kêu lên những tiếng kêu cầu thống thiết, liên tục, thành khẩn và như đang tập trung mọi nghị lực qua đôi mắt nhắm chặt và vầng trán nhăn nheo. Ông kêu tên Chúa và Mẹ Maria, cùng các Thánh, rồi đọc các kinh dành cho người bệnh trong giờ lâm tử. Tôi thấy vầng trán của ông nhíu lại, vã mồ hôi, như thể ông đang đứng ở một biên giới vô hình, quyết đấu với quỷ ma để giành giật lại linh hồn của người chết. Hình ảnh này không khác gì một buổi sống mái sanh tử giữa ông ta và tử thần, bởi từ thể xác ông hình như đang phát ra những thần lực để ông truyền lại cho người đang nằm bất động.


Đúng lúc ấy, con chó thả ngoài sân của nhà hàng xóm bỗng tru lên những hồi rùng rợn, và có lúc rên i ỉ như có người đang dọa nạt, mặc dù ngoài sân không một bóng người. Và ngay khi mẹ tôi thở hắt ra hơi cuối để từ giã cuộc đời thì con chó cũng im ngay thôi sủa, trong khi ông Thánh Sủng đưa tay lên quyệt những mảng mồ hôi đang vã ra như tắm. Lúc ấy ông mới buông tay, quay lại cây Thánh Giá trên ngực mẹ tôi cho đúng chiều, rồi nói: "Bà cụ đã ra đi trong yên bình". Cần nói thêm, việc chiến đấu của ông không phải chỉ lẻ loi và đơn độc, vì trước đó một giờ đồng hồ ông đã huy động tất cả mọi người thân gần đó quy tụ thành một khối, yểm trợ ông bằng những lời cầu kinh lâm râm trong miệng.


Theo ông, với sức mạnh tinh thần được tập trung cùng lúc, với sự thành khẩn và cầu xin, thì họ có thể xua đuổi được ác thần, lôi kéo người bệnh về được với đường ngay nẻo chánh. Ông Thánh Sủng nói rằng, phút lâm chung linh hồn conngười thật yếu đuối, họ rất dễ bị phủ dụ bởi ma quỷ, vì ma quỷ luôn lợi dụng lúc này để đưa ra biết bao điều nhung lụa để lôi kéo người sắp chết về phe nó. Phía ác thì như vậy, nhưng phía thiện chỉ đưa ra những điều thiện hảo, bằng sự thưởng phạt công minh, nên rất khó dẫn dắt được những kẻ yếu lòng tin. Vì vậy, khi người bệnh còn sống, còn minh mẫn, họ đã được hướng dẫn tuyên xưng đức tin và thề hứa từ bỏ ma quỷ. Rồi đến khi cầu nguyện bên một người sắp chết, là người ta cầu xin ơn Chúa Thánh Thần ngự trị, tạo thành một hàng rào để bảo vệ quanh người bệnh, đẩy lùi các mưu ma chước quỷ của tử thần!

 

Cách đây mấy tháng, tôi có người bạn thân tên Nguyễn B.Lộc, cư ngụ tại trại lính Hoàng Diệu cũ, thuộc khu chợ Hòa Hưng. Anh đột ngột ra đi trong đêm tối khi mới có 46 tuổi đời. Bạn bè ai cũng thương tiếc vì anh sống rất hòa nhã và vui vẻ với tất cả mọi người, vợ con cũng vậy tiếc ngẩn ngơ vì mất đi một người chồng, người cha luôn coi gia đình làm trọng. Sau khi hỏa thiêu, tro cốt của anh được đem về đặt dưới bàn thờ trong nhà để gia đình và người thân đến cầu nguyện cho anh. Anh có hai đứa con trai, đứa sau 15 tuổi lại là đứa thương anh hơn ai hết. Từ khi anh chết, nó nhất định không chịu vào giường ngủ, mà cứ ngủ dưới chân bàn thờ, nơi có đặt di ảnh của anh và hũ tro cốt, với hy vọng sẽ được gặp bố. Mẹ nó cầm lòng không đặng, đau khổ hỏi nó muốn gặp bố làm gì, nó nói chỉ để hỏi tại sao bố đi đâu lâu quá mà mãi đến nay cũng chưa về? Ai can ngăn dỗ dành thế nào nó cũng không từ bỏ lời cầu nguyện tha thiết xin được gặp bố, và nó tin tưởng rằng Chúa sẽ có ngày cho bố nó về, vì bố rất thương yêu mọi người trong nhà.


Lời cầu xin của nó đã được đáp lại. Một đêm kia, khi nó nằm co quắp ngủ dưới chân bàn thờ thì có người lay nó dậy. Nó tưởng mẹ nó như mọi lần, nhưng không, chính bố nó đã hiện về! Nó mừng quá lập cập hỏi:


- Bố đi đâu mà lâu vậy? Bố có biết mẹ và các con khóc hết nước mắt vì nhớ bố không? Bố đi đâu vậy? Bố nó lặng thinh đứng nhìn nó mà không trả lời, còn ngoảnh mặt quay đi như cố giấu giếm một điều gì bí ẩn. Thấy vậy nó lại hỏi:


- Tại sao bố không nói? Trước đây bố đi đâu cũng nói cho mọi người biết, giờ thì tại sao bố lại không nói? Nói rồi nó ôm mặt khóc hu hu. Mẹ nó ngủ gần đó nghe tiếng nó khóc giật mình tỉnh giấc, chị sững sờ khi thấy bóng chồng đang đứng gần con, nhưng vì quá sợ nên chị chỉ biết bụm miệng ngồi co gối trên giường để nhìn. Bóng ma ông chồng lúc ấy mới nhẹ nhàng trả lời con:


- Bố chết rồi! Bố không thể nào trở về được nữa! Thằng con khóc rú:


- Bố chết? Vậy ai bắt bố chết?


- Quỷ bắt bố chết! Quỷ đưa bố đi...


Thằng bé hốt hoảng:


- Vậy Chúa đâu? Bố có thấy Chúa không?


- Bố chưa thấy Chúa! Bố chưa thấy Chúa...


- Vậy bây giờ bố ở đâu? Bố có cần con gửi cho bố cái gì không?


- Bố chưa được gặp Chúa, con giúp bố đi...


Chị vợ của anh Lộc nghe tới đây, thấy đau thương quá, nén lòng không nổi liền bật òa lên khóc, hồn ma hốt hoảng tan nhanh như làn khói bị gió mạnh cuốn đi! Hôm sau hai mẹ con vội vã đem chuyện này ra kể với cha xứ Hòa Hưng để xin cha giúp ý, cha nói trong Thánh Lễ chiều nay cha sẽ chia xẻ điều này để xin cả giáo xứ cầu nguyện cho anh. Trong bài giảng hôm đó, cha xứ nói rằng, vì không kịp chuẩn bị cho giờ ra đi, nên anh Lộc đã không xác định được nơi chốn sẽ đến, vì vậy bọn ma quỷ đã ập đến để lôi kéo anh đi trong cái giờ phút mà chính anh cũng không ngờ. Nay nhờ những lời cầu nguyện anh đã hết lòng ăn năn thống hối, muốn được gặp mặt Chúa, nhưng chưa được vì còn bị giam ở "lò luyện tội". Tuy vậy, nhờ Hồng ân của Thiên Chúa anh đã được cho về để nói với gia đình về điều còn đang bị vướng mắc. Rồi cha xứ nhấn mạnh: "Con anh Lộc nói bố chưa được gặp Chúa, có nghĩa như là một lời cầu xin đầy ước ao rồi, và chúng ta phải giúp anh hoàn thành được ước nguyện đó".


Cái chết nào cũng là một sự mất mát, ra đi và không bao giờ trở lại. Nó khô khốc, bi quan và chán nản, nó tuyệt vọng và đau thương! Thế nhưng, đối với niềm tin của người Công Giáo, họ đã biến cái bi quan ấy thành một quan niệm lạc quan, vui mừng và hy vọng. Vì chết không phải là hết mà là bắt đầu một cuộc sống mới, họ coi cuộc sống trên dương thế chỉ là khởi điểm, và khi chết là đã hoàn tất cuộc hành trình trở về nhà Cha. Tuy nhiên, đối với một số người, cái chết vẫn còn mang vẻ huyền bí, vô lý, bởi đã là người thì ai cũng phải chết, nhưng giờ chết thì lại không ai định trước được!


Bất cứ lời cảm ơn hay tặng vật nào của tang gia gửi đến cũng đều bị ông Thánh Sủng từ chối, ông nói: "Các ông bà đừng làm mất ân nghĩa của tôi, vì người chết khi về được với Chúa thì chính họ sẽ cầu bầu lại cho chúng ta, là những người đã cầu nguyện cho họ. Đây là một cử chỉ bác ái và cũng là bổn phận của bất cứ người Công giáo nào". Ông Thánh Sủng hơn người ở chỗ đã sớm giác ngộ để được biết cuộc sống đời sau mới thực là quan trọng, còn mọi thứ khác ở trên đời này đều là phù vân, mộng ảo. Vì vậy ông đã áp dụng đúng mức hai giới răn quan trọng nhất khi sống ở cõi trần gian tạm bợ này là "mến Chúa và yêu người", và ông chọn con đường khó khăn và gian nan nhất là yêu những người... sắp chết! Tôi tin là ông Thánh Sủng đã "nhìn" được những gì ở đằng sau mỗi cái chết mà ông đã chứng kiến. Bởi có lần một ông hàng xóm qua đời mà nhất định không chịu ăn năn thống hối để trở lại với Chúa, ông đã rầu rĩ khóc lóc, và đi hết chỗ này chỗ nọ để xin Lễ cho người đã chết! Ông kể: "Tôi bất lực khi đánh mất một Linh hồn, để Linh hồn này rơi vào tay ma quỷ. Tôi sẽ cầu nguyện cho ông ấy suốt những ngày còn lại của đời tôi"! Người hàng xóm kể: Lúc nghe tin có người bệnh này, ông đã đến ngay nhưng bị xua đuổi, nhưng ông vẫn quỳ bẹp ngoài sân cùng với những người khác trong gia đình để cầu nguyện. Lợi dụng lúc người bệnh đã mê man, ông vào bắt mạch và biết giờ người này sẽ ra đi, ông vạch ra một kế hoạch để quyết đấu với ma vương! Ông dùng nước phép vẩy quanh nhà, treo lại các ảnh tượng, rồi cắt cử luân phiên cho các tốp người đọc kinh trợ lực. Thế nhưng, khi người bệnh tắt thở, ông nhạt nhòa nước mắt nói rằng: "Ông ấy đã bịt tai, nhắm mắt, và đưa tay cho bọn quỷ dữ..." Người nhà của ông này cũng xác nhận như vậy, vì trong ba ngày quàn xác tại nhà, ông ta đều hiện về với hình ảnh rũ rượi, đau thương, và tru lên những tiếng kêu thống thiết!


Trước khi lên đường trở lại Úc, tôi đã đến tận nhà để cảm ơn ông Thánh Sủng, ông nói ngay lời xin lỗi đã không đến dự bữa cơm gia đình sau đám tang của mẹ tôi, nhưng ông hứa sẽ tiếp tục cầu nguyện cho mẹ tôi trong vòng 100 ngày, và yêu cầu mọi người thân trong gia đình cũng làm y như vậy, để linh hồn của người chết mau chóng được về chốn an bình. Tôi nói với ông, tôi tin có sức mạnh ở lời cầu nguyện, vì trong đời tôi đã có nhiều lần nguy biến mà nhờ sự thành tâm cầu khẩn mà tôi và những người thân đã vượt thoát qua được lưới bủa của tử thần.